Showing posts with label articles. Show all posts
Showing posts with label articles. Show all posts

Saturday, January 2, 2016

Mời đồng hành cùng nhóm nghệ sĩ múa rối trẻ giao lưu văn hóa dân gian tiểu vùng sông Mekong


* Trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu giao lưu văn hóa dân gian ASEAN thông qua nghệ thuật múa rối, nhóm Dịch giả trẻ thông qua Ngôi nhà Hữu nghị Mekong và Mạng lưới kể chuyện Việt Nam tổ chức một đoàn nghệ sĩ múa rối trẻ sang giao lưu tại tại Phnom Penh (Campuchia) ngày 13/01/2016 và tại Amphawa (Thái Lan) từ ngày 15-17/01/2016.

Trước đó, vào ngày 10/01/2016 nhóm có tổ chức một buổi biểu diễn gây quỹ bằng hình thức tài trợ số đông trao đổi bằng vật phẩm cảm ơn và các hợp đồng biểu diễn nhằm ủng hộ nhóm và giới thiệu những hoạt động chuẩn bị cho liên hoan tương tự sẽ được tổ chức tại Tp.HCM.

* Các hạng mục gây quỹ
- Kinh phí duy trì tên miền mekonghouse.org (hết hạn 09/01/2016)
- Kinh phí vận chuyển khứ hồi dành cho tối thiếu 1 thành viên đoàn
- Kinh phí chuẩn bị quà tặng giao lưu cho các đoàn nghệ sĩ quốc tế (Myanmar, Thái Lan, Campuchia)
- Kinh phí cho các hoạt động giao lưu bên lề mời các đoàn nước bạn tham gia liên hoan tương tự tại Tp.HCM trong năm 2016.

* Hình thức gây quỹ:
- Trao đổi bằng vật phẩm và thư cảm ơn sau liên hoan (đối với nhà tài trợ cá nhân hoặc ủng hộ từ 100.000đ trở xuống)
- Trao đổi bằng một phần chương trình biểu diễn sau liên hoan (đối với nhà tài trợ tập thể hoặc ủng hộ dưới 5.000.000đ)
- Trao đổi bằng toàn phần chương trình biểu diễn sau liên hoan (đối với ủng hộ trên 5.000.000đ)

Đăng ký đặt chỗ qua mạng: https://ticketbox.vn/event/crowdsupport-for-mekong-youth-puppetry-group-58424 (hoặc liên lạc theo đường dây nóng)

Số lượng tham gia tối đa: 50 (kể cả thành viên được mời)

Lịch trình và chương trình dự kiến:

07:00
Tập trung tại trạm xe công viên 23/09

07:30
Đi từ Quận 1 đến Quận 9
- Đi bằng xe bus số 88 từ Bến Thành đến chợ Long Phước (quận 9)
- Đi xe máy theo lộ trình tham khảo: https://goo.gl/maps/uJ1BQPeYuut

08:30
Đi từ chợ Long Phước đến điểm tổ chức
- Tại trạm cuối Long Phước, có xe của ban tổ chức đưa rước khách về địa điểm tổ chức cách đó khoảng 4km tại khu vực bờ Đông Nam của đảo Long Phước (phường Long Phước, quận 9).
- Đi xe máy theo lộ trình tham khảo: https://goo.gl/maps/ZWtnBA3bwY82

09:00
Tham quan tự do xung quanh không gian nhà vườn và các tình nguyện viên hỗ trợ nấu nướng

10:00
Bắt đầu chương trình
- Giới thiệu đại biểu, ban tổ chức và thành viên đoàn giao lưu
- Biểu diễn báo cáo cho ban cố vấn và nhà tài trợ xem trước tiết mục đem đi giao lưu. Bản xem thử tóm tắt: https://youtu.be/y7JhY7Uo860
- Thuyết trình về các hoạt động của Nhóm Múa rối Thanh niên Mekong

11:00
Lắng nghe góp ý
- Ban cố vấn chuyên môn: GS. Nguyễn Đăng Hưng, GS. Chung Hoàng Chương, TS. Nguyễn Nhã, PGS. Thành Phần, Nghệ nhân Bùi Thị Ngọc Mỹ...
- Các nhà tài trợ cá nhân và tổ chức

12:00 Dùng cơm trưa với chủ không gian nhà vườn là cô Lý Lệ Hoa, cố vấn kiêm ủng hộ viên nhiệt tình của nhóm nghiên cứu giao lưu văn hóa dân gian ASEAN.

13:00 Nghỉ ngơi và giao lưu tự do buổi chiều (các thành viên có thể ra về theo lịch trình cá nhân)

Chương trình sẽ có ghi hình tư liệu để gửi tặng cho các nhà tài trợ.


* Chi tiết về hoạt động của đoàn tại Việt Nam, Campuchia và Thái Lan:

10/01/2016
Chương trình báo cáo trước liên hoan với ban cố vấn và nhà tài trợ.

12/01/2016
Đoàn xuất phát đi Campuchia

13/01/2016
Đoàn giao lưu với Hội Nghệ thuật Phum Sovanna tại Phnom Penh

14/01/2016
Đoàn xuất phát đi Thái Lan
Ban tổ chức đưa đón từ Bangkok đến Amphawa

15-17/01/2016
Đoàn giao lưu với các nghệ sĩ múa rối trẻ xuất sắc của Myanmar và Thái Lan tại Amphawa

18/01/2016
Đoàn xuất phát về lại Tp.HCM

24/01/2016 (dự kiến)
Đoàn báo cáo sau liên hoan với ban cố vấn và các nhà tài trợ

Cập nhật về các hoạt động đồng hành cùng đoàn vui lòng xem tại: https://www.facebook.com/events/869614663156053/
---

Thông tin về nhóm nghệ sĩ múa rối trẻ

Tên nhóm: Mekong Youth Puppetry Group (Nhóm Múa rối Thanh niên Mekong)

Mô tả nhóm: Nhóm bao gồm một số người điều khiển rối có cùng quan tâm đến nghệ thuật múa rối phục vụ cho giáo dục và sự quảng bá một nền văn hóa hòa bình. Đoàn tham gia liên hoan ở Thái Lan năm 2016 bao gồm 4 nghệ sĩ trẻ đang sinh hoạt tại Trung tâm Múa rối Baby (Nhà thiếu nhi Tp.HCM) và 1 nghệ sĩ trẻ đang sinh hoạt tại Nhóm Múa rối Hoa Hồng Nhỏ (Nhà thiếu nhi Đồng Nai).

Tên các thành viên:
1. Phan Tuấn Quốc (Nemo)
2. Nguyễn Thị Diễm Thúy (Tindy)
3. Vũ Ngọc Tân (Kevin)
4. Nguyễn Thị Loan (Xafiz)
5. Phan Ngọc Thảo (Kirby)

CHƯƠNG TRÌNH

Tên buổi biểu diễn: A story of two brothers (Một câu chuyện về hai anh em)

Thời lượng buổi diễn: 20-25 phút

Loại hình buổi diễn: trực tiếp với lời thoại và tương tác

Loại hình con rối: rối tay

Kịch bản: chương trình được bắt đầu với một nhân vật đặc biệt, theo sau là hai câu chuyện ngắn bằng liên khúc múa trên nền nhạc truyền thống với các nhân vật bé trai bé gái và các con thú vui nhộn.

Nội dung chính: buổi diễn là một câu chuyện dài mang tính kịch mục phục vụ cho mục đích giáo dục dựa trên câu chuyện dân gian về hai anh em trai có tính cách khác nhau cuối cùng kết thúc khác nhau khi cùng gặp một vị thần có cây búa bằng vàng, bạc và sắt. Đây cũng là một câu chuyện phổ biến ở các nước thành viên ASEAN.

Bản xem thử: https://youtu.be/y7JhY7Uo860


THUYẾT TRÌNH:

Tên bài thuyết trình: "Puppetry for education: The role of folk stories in ASEAN Community context" (tạm dịch: Múa rối dành cho giáo dục: Vai trò của những truyện kể dân gian trong bối cảnh Cộng đồng ASEAN)

Tên người trình bày chính: Nemo

---


Mekong Friendship House's Youth Puppetry Group participating in Harmony International Youth Puppet Festival 2016 in Amphawa during January 15-17, 2016.

For better preparation of the festival and attract the attention of public audience and media, we are organizing fundraising event on January 10, 2016. Ticket can be booked via: https://ticketbox.vn/event/crowdsupport-for-mekong-youth-puppetry-group-58424

DELEGATION

Group name: Mekong Youth Puppetry Group

Group description: The group consists of some puppeteers who share common interest in puppetry arts for education and the promotion for a culture of peace. The delegation for Thailand festival comprises 4 artists from Baby Puppetry Center (The Children's House of Hồ Chí Minh City) and another from Little Roses Group (The Children's House of Đồng Nai Province)

Names of members:
1. Phan Tuấn Quốc (Nemo)
2. Nguyễn Thị Diễm Thúy (Tindy)
3. Vũ Ngọc Tân (Kevin)
4. Nguyễn Thị Loan (Xafiz)
5. Phan Ngọc Thảo (Kirby)

PROGRAM

Name of show: A story of two brothers

Length of show: 20-25 minutes

Type of show: live performance with vocals and interactive actions

Type of puppets: hand puppets

Script: The full show is led by a special character, followed by 2 short stories by medley dance in traditional music background featuring little boys and girls characters and another featuring funny animal characters.

Content: the show is a long story as drama for education purpose based on folk story about two brothers of different characters who had different ends when meeting a the god with axes made of gold, silver and steel.

Demo: https://youtu.be/y7JhY7Uo860

WORKSHOP PRESENTATION

Name of presentation: "Puppetry for education: The role of folk stories in ASEAN Community context"

Name of main presenter: Nemo

SCHEDULE

As planned, we will started our trip on January 12 from Hồ Chí Minh City, have a stop in Phnom Penh, and will reach Bangkok on January 14.

Details of tentative schedule asbelow:

January 12
23:00 Departure for Phnom Penh by bus

January 13
07:00 Arrival to Phnom Penh
08:00 Exchange in Phnom Penh
17:00 Arrival of the last member to Phnom Penh

14/01/2016
05:30 Departure for Bangkok
13:00 Arrival to Bangkok (Morchit bus station?)
14:00 Khun Nam's pickup to Amphawa

15-17/01/2016
Exchange in Amphawa

18/01/2016
Departure for Hồ Chí Minh City (by bus and airplane)

 

Friday, February 13, 2015

Dịch thuật sử học Việt Nam trong thế giới phẳng - Phạm Hoàng Quân

* YTCxHCMC trân trọng giới thiệu với cộng đồng dịch giả trẻ nội dung bài viết nhan đề "Dịch thuật sử học Việt Nam trong thế giới phẳng" cung cấp một số thông tin so sánh về hoạt động dịch thuật chuyên ngành sử học, văn hóa học, Trung Quốc học và Đông Nam Á học giữa Việt Nam và nước láng giềng Trung Quốc (không bao gồm Đài Loan). Những thông tin mà bài viết nêu ra là một thực tế đáng báo động về tinh thần dấn thân của giới dịch giả Việt Nam trong bối cảnh nước láng giềng đã đi trước hơn nửa thế kỷ trong việc xây dựng một mạng lưới dịch giả quốc gia. Bài báo của dịch giả kiêm nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân được đăng lần đầu trên trang mạng báo Tuổi Trẻ vào ngày 13/02/2015 trong chuyên mục "Vấn đề - Sự kiện".


Một nền học mới khởi đi từ khoảng 100 năm trước đã để lại những dấu ấn sâu sắc tại nhiều quốc gia châu Á, khi mà những tiếp biến khoa học, văn hóa và tri thức nói chung ngày một tấp nập và đa chiều. Trong góc nhìn khoa học xã hội, cụ thể là với nền sử học hiện đại Việt Nam, thử nhìn lại việc dịch thuật các tác phẩm sử để đo lường chiều sâu, bề rộng của quá trình này.

Chuyện bên láng giềng

Cuối tháng 8 năm rồi, một bản tin trên trang web của Đại học Vân Nam (Trung Quốc) không thể không bắt chúng ta phải nghiền ngẫm. Bản tin thông báo dự án “Dịch thuật các nghiên cứu về Đông Nam Á của ngoại quốc” đã khởi động từ ngày 12-7-2014.

Đây là một chương trình dài hơi, với mục đích dịch sang Trung văn và xuất bản thành tùng thư gồm những nghiên cứu từ nhiều ngôn ngữ của các học giả phương Tây và Đông Nam Á chuyên nghiên cứu về lịch sử Đông Nam Á. Chủ biên tùng thư này là Tôn Lai Thần (Sun Laichen) - học giả Hoa kiều đang dạy sử tại CSUF (California State University, Fullerton), người từng đưa ý tưởng và thôi thúc dự án từ hơn mười năm trước.

Tháng 4-2015, dự án nói trên sẽ hoàn thành và xuất bản chín bản dịch, trong đó có ba bản liên quan trực tiếp đến Việt Nam, gồm: Nghiên cứu lịch sử An Nam (phần I): Công cuộc chinh phục An Nam của hai triều Nguyên, Minh của học giả Nhật Bản Yamamoto Tatsuro (Sơn Bản Đạt Lang, Tokyo: Yamakawa Shuppansha, 1950); Ho Chi Minh: A life của học giả Mỹ William J. Duiker; Nỗi buồn chiến tranh, tiểu thuyết của nhà văn Việt Nam Bảo Ninh. Dự án này cũng sẽ tái bản Việt Nam thông sử (nguyên tác Việt ngữ Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Đới Khả Lai dịch, Thương Vụ ấn thư quán xuất bản lần đầu năm 1992).

Phần tiếp nối của dự án sẽ là 25 bản dịch sách lịch sử và nghiên cứu sử chuyên đề (của 20 tác giả đương đại và 5 tác giả cổ đại). Trong số này có những công trình rất mới như A history of the Vietnamese của Keith Taylor (Cambridge University Prees, 2013), A new history of Southeast Asia của M.C. Ricklefs (Palgrave Macmillan, 2010), Sự hình thành và tiếp biến của nhà nước Đại Việt thời trung đại của Momoki Shirou (Đào Mộc Chí Lãng, Hội xuất bản Đại học Osaka, 2011), có tác phẩm kinh điển về văn hóa Việt Nam của Pierre Huard & Maurice Durand (Connaissance du Viet-Nam, Hanoi, EFEO, 1954), có nghiên cứu so sánh về chế độ chính trị Trung Quốc - Việt Nam của Alexander Barton Wooside (1) và cũng thấy có Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ 13 của Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm nữa.

Cái mới của dự án dịch thuật thuộc Đại học Vân Nam là việc hình thành một tổ chức đặc nhiệm nhằm nhanh chóng nắm bắt những vấn đề trọng yếu liên quan đến chính trị, kinh tế và quân sự thuộc khu vực Đông Nam Á hoặc những phân tích sâu sắc nằm trong các nghiên cứu mới mẻ thuộc diện đỉnh cao học thuật của các tác giả ngoài Trung Quốc. Nó là sự nối tiếp một cách quy mô, hệ thống và bài bản công việc mà học giới nước này đã làm gần 90 năm qua.

Trong khoảng từ năm 1950 đến nay, không kể các báo cáo quân sự hoặc niên giám kinh tế, về học thuật, sơ bộ thấy Trung Quốc đã dịch của Việt Nam khoảng hơn 50 tựa, đáng chú ý là bốn bộ thông sử gồm của Đào Duy Anh (Việt Nam cổ đại sử, Thương Vụ ấn thư quán xuất bản năm 1959), Minh Tranh (Việt Nam sử lược, Tam Liên thư điếm, 1960), Viện Khoa học xã hội (Việt Nam lịch sử, Bắc Kinh Nhân Dân xuất bản xã, 1977, tham khảo nội bộ), Trần Trọng Kim (Việt Nam thông sử, Thương Vụ ấn thư quán, 1992); một bộ lịch sử địa lý Việt Nam của Đào Duy Anh (Thương Vụ ấn thư quán, 1973); năm cuốn chuyên đề về biển Đông (Tập san Sử địa 29, hai cuốn Sách trắng và hai cuốn của nhà ngoại giao kỳ cựu Lưu Văn Lợi).

Ngoài số đó còn có các bản dịch từ tác giả Tây, Nhật nghiên cứu về Việt Nam, tiêu biểu như Việt Nam Trung Quốc quan hệ sử niên biểu của Yamamoto Tatsuro (Sở Nghiên cứu Đông Nam Á tỉnh Vân Nam xuất bản, 1983), Việt Nam Nguyễn thị vương triều xã hội kinh tế sử của Li Tana (NXB Văn Tân, 2000), Việt Nam chính trị kinh tế chế độ nghiên cứu của Shiraishi Masaya (NXB Đại học Vân Nam, 2006).

Lược thuật trên đây chưa đề cập lãnh thổ Đài Loan, vốn là nơi mà không khí học thuật thoáng đãng và vượt xa hơn rất nhiều, nhất là việc dịch thuật.

Ngược về thời kỳ Dân Quốc, là thời kỳ bắt đầu đặt nền tảng của nền học mới, năm 1927 học giả Phùng Thừa Quân (Feng Chengjun/, 1885-1946) cho xuất bản bản dịch Côn Lôn cập Nam Hải cổ đại hàng hành khảo (2), và từ đó cho đến 20 năm sau, học giả này hoàn thành hơn 100 bản dịch gồm những bài nghiên cứu và sách của các học giả phương Tây đăng trên BEFEO (tạp chí của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp đặt tại Hà Nội), T’oung Pao (tạp chí của Hà Lan), Journal Asiatique (tạp chí của Hội Nghiên cứu châu Á, Pháp)...

Các nghiên cứu được chọn dịch hầu hết liên quan đến lịch sử, văn hóa Trung Á và Đông Nam Á, trong số đó có hơn 10 công trình nghiên cứu về Việt Nam mang tính cơ bản và rất nổi tiếng như: Khảo về Tượng quận thời Tần Hán, Khảo về cương vực Phủ đô hộ An Nam thời Đường, Khảo về các quốc gia trên bán đảo Việt Nam đầu thời Tống, Chính trị & địa lý nước An Nam trong các triều đại Lý, Trần, Hồ... của H. Maspero; Vương quốc Champa của G. Maspero; Khảo về việc bình định An Nam đầu thời Tần, Bổ túc sử liệu Champa của Aurousseau; Khảo về nước Phù Nam, Ghi chú về “Chân Lạp phong thổ ký”, Khảo về Mâu Tử, Một số vấn đề về sử liệu Trung Quốc liên quan đến Việt Nam... của P. Pelliot; Các thế hệ vương triều Việt Nam của M.L. Cadière...

Chuyện ở nước nhà ta

Nhìn lướt qua một thế kỷ học thuật ở nước bên cạnh, chúng ta phần nào hình dung được sự yếu kém của nền sử học nước nhà trên con đường học thuật thênh thang của nhân loại.

Một thế kỷ qua hầu như những người làm sử và nghiên cứu sử nước ta chưa dịch trọn vẹn bộ thông sử Việt Nam nào trong số mấy chục bộ do ngoại quốc soạn, trước đây như của tác giả Pháp, gần đây như của các tác giả Trung Quốc và mới đây như của K. Taylor chẳng hạn.

Dù nguyên nhân là gì thì việc không dịch và phổ biến những trứ tác bên ngoài thì cũng là một kiểu sai lầm, và thiệt thòi đầu tiên là ta sẽ mãi mãi không hiểu cặn kẽ đối phương.

Trung Quốc tuy dịch nhiều nhưng nhìn kỹ thấy có phân biệt ra hai nhóm, một nhóm sách là những công trình nghiên cứu đỉnh cao để họ học tập và một nhóm sách là dịch để hiểu đối phương. Đối với Trung Quốc, sách sử Việt Nam đương nhiên thuộc nhóm thứ hai, đến như cuốn sử chuyên đề Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc (NXB Thế Giới Tri Thức, 1980) mà trong đó người nước ta mắng tổ tiên họ ra rả mà họ cũng dịch cũng bày bán, hay như cuốn Nỗi buồn chiến tranh lọt trong mớ toàn sách sử mà Đại học Vân Nam đang dịch thì ta phải biết họ không dựa trên tiêu chí giá trị văn chương gì đâu.

Đối với các nghiên cứu sử có giá trị khoa học thì ta dịch quá ít, lác đác mới thấy có vài cuốn như của Yoshiharu Tsuboi, Li Tana, A.L. Fedorin, Choi Byung Wook cùng với một số bài nghiên cứu ngắn hoặc rất ngắn. Hậu quả của sự thiếu giao lưu học thuật qua con đường phiên dịch này cũng giống như thời nhà Nguyễn bế quan tỏa cảng, sử học Việt Nam vẫn đang đóng cửa “độc hành kỳ đạo”. Cứ đọc thử vài bài tham luận thuộc mảng sử trong những quyển kỷ yếu hội thảo Việt Nam học sẽ thấy ngay mức chênh lệch xa lắc giữa tác giả trong nước với tác giả bên ngoài. Người Việt Nam mà nghiên cứu về Việt Nam còn thua bên ngoài, nói chi đến việc nới rộng ra khu vực hay thế giới.

Các sách về phương pháp luận tuy được lưu ý sớm, thời kỳ tạp chí Nam Phong (1917-1934) đã có đăng vài bản dịch từ tiếng Pháp, cung cấp một số kiến thức cơ bản về phép viết sử và phương pháp nghiên cứu mới cho người đương thời, nhưng đây lại là công việc thuộc về trào lưu, chục năm không đổi đã gọi là lạc hậu.

Việc thống kê, khai thác sử liệu và hiệu khám sử liệu từ bên ngoài cũng quá chậm chạp. Bản dịch bộ Những người bạn cố đô Huế (B.A.V.H.), vài cuốn sử liệu Trung Quốc liên quan đến Việt Nam, tập sử liệu Đông Ấn Hà Lan cùng với vài tập du ký mỏng mỏng của người phương Tây chẳng thấm vào đâu đối với nhu cầu thực tế.

Nếu trong dịp kỷ niệm một thế kỷ Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) ở Việt Nam vừa qua chẳng hạn, mà một vài bản dịch tiếng Việt từ các tác giả EFEO đăng trên BEFEO ra đời thì có lẽ ngoài dấu ấn sâu sắc nó còn có giá trị thúc đẩy học thuật cao hơn nhiều thay vì các bài diễn văn kể lể. Đã đành hoạt động nào cũng có giá trị và lợi ích riêng của nó, nhưng ở đây lại là biểu hiện của sự mất cân đối trong hoạt động học thuật. Trong hàng trăm nghiên cứu của EFEO trước năm 1959, đến năm 2008 mới thấy ra đời một bản dịch Việt văn mà nguyên tác của nó đã nổi tiếng ngay sau khi xuất bản năm 1944 ở Hà Nội (Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông, G. Coedès, Nguyễn Thừa Hỷ dịch). Còn những nghiên cứu thiết thực hơn về lịch sử nước nhà từ kho BEFEO, T’oung Pao, Journal Asiatique... mà đại đa số người nghiên cứu ở xứ ta chưa đọc được thì giới học thuật Trung Quốc đã được đọc bằng Trung văn hồi 70, 80 năm trước!

Chưa kể, có một nỗi thẹn khi việc hiệu khám bộ chính sử thì do một học giả Trung Hoa thực hiện và in ở Nhật (Trần Kinh Hòa, Đại Việt sử ký toàn thư hiệu hợp bản, 1983), hoặc như việc làm thư mục kho sách Hán Nôm thì phải nhờ người Pháp giúp đỡ (Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu, 1993) mà cũng sai sót tùm lum.

Sẽ có ý kiến đổ cho hoàn cảnh lịch sử, rằng chiến tranh lâu dài mà lại nhằm vào lúc nền sử học mới đang trưởng thành, tiếp đến là thay đổi hệ thống giáo dục, gò bó quan điểm... Dẫu đó là thực tế đi chăng nữa thì xét kỹ ra mới chỉ là một mặt của những nguyên nhân khiến sử học lạc hậu.

Hồi mới bắt đầu dịch thuật, người nước ta chuyên chú vô truyện Tàu, đọc khắp chợ cùng quê, thôi thì cũng là phù hợp với mặt bằng dân trí, nhưng ngày nay dịch tiểu thuyết ngôn tình, nhiều đến độ chất thành núi, thì cũng do mặt bằng dân trí sao? Do không ai tư vấn được những chương trình hay và có ích lợi lâu dài cho Chính phủ, do kém về ngoại ngữ, hoặc là lười biếng dịch thuật? Đến nay nhìn lại thì việc xưa chồng chất, việc mới ồ ập.

Nền học thuật nào muốn hiểu rõ mình hẳn độ 20 năm có một tiểu kết, độ 50 năm làm một tổng kết, nếu như có ai đủ điều kiện làm cuộc đại kết một thế kỷ sử học Việt Nam, xin mạo muội gởi vài ý trong bài này vào phần nói về những chỗ chưa được.

(1): Vietnam and the Chinese Model: A Comparative Study of Vietnamese and Chinese Government in the First Half of the Nineteenth Century, Cambridge, 1988)

(2): từ nguyên tác Le K’uoen-Louen et les anciennes navigations in terocéaniques dans les mers du sud của Gabriel Ferrand (Journal Asiatique, 1919)

Phạm Hoàng Quân

Tuesday, November 12, 2013

Viễn cảnh loài người nói chung một ngôn ngữ

* Nhân kỷ niệm 3 năm ngày thành lập Cộng đồng Dịch giả trẻ Tp.HCM (13/11/2010-13/11/2013), chúng tôi xin giới thiệu một góc nhìn về viễn cảnh thế giới khi có một ngôn ngữ chung thống nhất. Bài viết dẫn nguồn từ Tạp chí Trí thức trẻ và đăng trên trang mạng reds.vn lần đầu ngày 05/11/2013.

Các nhà khoa học đi tìm lời đáp cho câu hỏi: Trái đất sẽ ra sao nếu chúng ta nói chung một ngôn ngữ?

Với tốc độ hội nhập hiện nay, việc một người có thể thành thạo 3-4 thứ ngoại ngữ là chuyện không hiếm. Nhưng liệu đã bao giờ bạn nghĩ thế giới sẽ ra sao nếu chỉ còn một ngôn ngữ duy nhất?

Thứ tiếng chung đó là của quốc gia nào - Mỹ, Pháp, Đức hay nước Việt Nam của chúng ta? Cùng xây dựng viễn cảnh đó bằng cách tìm hiểu những lợi ích và bất cập do “ngôn ngữ chung” mang lại qua thông tin từ trang How Stuff Works.

Theo dòng lịch sử...

Một số tài liệu cổ từng nhắc đến một khoảng thời gian loài người nói chung một thứ tiếng. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có bằng chứng thật cụ thể về ngôn ngữ mà người cổ đại từng sử dụng chung, dù có rất nhiều chuyên gia chỉ ra được những điểm tương đồng, đi kèm là những bằng chứng về nguồn gốc trong hệ ngôn ngữ lâu đời nhất còn tồn tại như tiếng Hy Lạp, tiếng Latin, và tiếng Phạn.

Theo Noam Chomsky - giáo sư ngôn ngữ học tại Học viện MIT (Mỹ), mọi ngôn ngữ từng tồn tại chỉ là sự chỉnh sửa phiên bản tiền thân của chúng.

Trong lịch sử cận đại, chưa lúc nào loài người sử dụng chung một ngôn ngữ và việc xác định số lượng ngôn ngữ gặp rất nhiều khó khăn. Hơn 10.000 năm trước, dù dân số thế giới mới chỉ khoảng 5 - 10 triệu người nhưng đã tồn tại tới trên 12.000 ngôn ngữ.

Hiện nay, trên thế giới ước tính chỉ còn khoảng 6.909 ngôn ngữ khác nhau, nhưng dự đoán đến năm 2100 con số này chỉ còn chưa đến 1/2 ngôn ngữ hiện tại. Với việc số lượng ngôn ngữ toàn cầu đang "thui chột", liệu đến một tương lai xa hơn, loài người có quay trở lại sử dụng chung một ngôn ngữ?

Tương lai của ngôn ngữ

Ngày nay, toàn cầu hóa đã giúp con người kết nối với nhau ngay cả ở những vùng dân cư xa xôi, hẻo lánh nhất. Nhiều chuyên gia tin rằng, chúng ta đang hướng đến tương lai trong đó loài người sử dụng chung một ngôn ngữ. Theo đó, mỗi người sẽ tự trang bị thêm ngôn ngữ này, song hành với tiếng mẹ đẻ của mình.

Tuy nhiên, việc sử dụng ngôn ngữ chung lại dấy lên lo ngại rằng, nó sẽ khiến sự “đa dạng ngôn ngữ” bị mất đi. Nói về vấn đề này, hầu hết chuyên gia về ngôn ngữ đều cho rằng, điều này khó có thể xảy ra, thậm chí trong hàng triệu năm nữa. Nguyên nhân là do ngôn ngữ là đặc trưng của mỗi quốc gia, có nhiều sự ràng buộc với văn hóa, gia đình và thậm chí là bản sắc cá nhân.

Khi một quốc gia trở nên lớn mạnh, sự phát triển này sẽ gây ra nhiều ảnh hưởng đến các nước trong khu vực và thế giới. Ngôn ngữ của quốc gia đó sẽ trở thành một “công cụ” cần thiết, thu hút sự tiếp thu nhằm giao thương và học hỏi với người dân nơi đây.

Cùng với đó, việc học ngôn ngữ để giao tiếp, giao thương khác hoàn toàn với “vinh hạnh” khi sử dụng tiếng mẹ đẻ. Với nhiều người, học một ngôn ngữ phổ biến là để "nâng cấp" bản thân cho tương lai, nhưng sử dụng tiếng mẹ đẻ mới là sợi dây nối họ với quá khứ.

Lợi ích của “ngôn ngữ chung”

Vậy việc sử dụng chung một ngôn ngữ duy nhất đem lại lợi ích gì? Một số người cho rằng, nếu mọi người sử dụng ngôn ngữ đồng nhất, nó sẽ làm giảm đi sự ngờ vực cùng hận thù giữa các dân tộc. Bởi ngôn ngữ là một mảnh ghép của rất nhiều điều tuyệt diệu tạo nên nhân loại, bên cạnh những lĩnh vực như âm nhạc, hội họa, ẩm thực và văn hóa vùng miền.

Không chỉ vậy, sử dụng ngôn ngữ chung, việc bạn giao tiếp tự do với phần còn lại của thế giới sẽ mở ra nhiều cơ hội học tập và làm việc, các mối quan hệ giữa người với người, hay quốc gia với nhau.

Tuy nhiên như đã nói ở trên, ngôn ngữ có mối quan hệ ràng buộc với văn hóa, vậy nên phải chăng khi một ngôn ngữ mất đi, văn hóa vùng đó cũng sẽ không còn. Khi tất cả ngôn ngữ trên Trái đất “quy về một mối”, hầu hết nền văn hóa gắn liền với ngôn ngữ cũng sẽ biến mất.

Điều này lại đặt ra một câu hỏi khác, đó là ngôn ngữ nào sẽ được sử dụng? Theo các chuyên gia, điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sự thay đổi về quyền lực và kinh tế quốc gia theo thời gian - những động lực gia tăng nhu cầu tiếp thu ngôn ngữ.

Tuy vậy, đã từng có một ngôn ngữ được sáng tạo riêng nhằm mục đích trở thành “ngôn ngữ chung cho toàn nhân loại”. Đó là tiếng Esperanto hay còn gọi là “Quốc tế ngữ”.

"Quốc tế ngữ" được tạo ra vào năm 1887 bởi một học giả người Ba Lan - Ludwik Lejzer Zamenhof. Đây là một ngôn ngữ được đánh giá là khoa học, logic và dễ sử dụng.

Tuy nhiên, đây có thể coi là một ngôn ngữ “chết yểu” khi đến nay số lượng người sử dụng Esperanto làm ngôn ngữ thứ nhất chỉ khoảng 200 - 2.000 người, cùng khoảng 2 triệu người rải rác trên toàn thế giới sử dụng như ngôn ngữ thứ hai.

Phó giáo sư Matt Pearson thuộc ĐH Reed, thành phố Portland (Mỹ) lý giải nguyên nhân sở dĩ chúng "chết yểu" có thể là do “Quốc tế ngữ” không phải ngôn ngữ của một nền kinh tế hoặc chính trị nổi trội nào trên thế giới.

Hiện nay, trên thế giới có một số ngôn ngữ được sử dụng phổ biến như tiếng Quan Thoại, Ấn Độ hay tiếng Tây Ban Nha... Tuy nhiên hiện chỉ có một ngôn ngữ tiến gần nhất đến mốc “ngôn ngữ chung”- đó là tiếng Anh.

Có nhiều hơn 100 quốc gia nói và sử dụng tiếng Anh. Nhưng rất có thể trong tương lai, tùy thuộc vào sự thay đổi của kinh tế và chính trị các nước, vị thế của tiếng Anh có thể bị lật đổ.

Tuy nhiên, có một điều chắc chắn không thay đổi, đó là con người ta luôn có xu hướng ưu tiên và dựa vào tiếng mẹ đẻ. Xét cho cùng, ngôn ngữ không chỉ là công cụ để giao tiếp mà còn là thứ kết nối với bản sắc của mỗi con người.

Thursday, May 23, 2013

Người chuyển ngữ đặc biệt của Nick Vujicic tại Việt Nam

* YTCxHCMC xin trân trọng giới thiệu với cộng đồng dịch giả trẻ nội dung bài viết nhan đề "Người chuyển ngữ đặc biệt của Nick Vujicic tại Việt Nam" được đăng trên trang mạng báo Dân trí vào ngày 23/05/2013. Điều đáng tiếc là vai trò của người phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu này một cách tổng quát đã không được hiểu đúng và đủ từ phía những người tổ chức, xét trong bối cảnh việc dịch thuật vẫn chưa được coi trọng như một nghề nghiệp, mà thực tế là hiện tại Việt Nam chưa có bất cứ hội nào của riêng những người làm nghề dịch. Tuy nhiên, bài viết này có tính gợi mở về một chuyên ngành hẹp của phân ngành phiên dịch là ngôn ngữ ký hiệu (thủ ngữ, dấu tay), có thể là tư liệu hữu ích cho các dịch giả có nhiều sự quan tâm tới đối tượng người sử dụng dịch vụ phiên dịch là người khiếm thính.

Trong buổi nói chuyện đầu tiên của Nick Vujicic với công chúng TP.HCM, mọi người chăm chú nghe người chuyển ngữ đứng ngay bên cạnh Nick dịch từng lời của anh. Ít ai để ý, ở góc phải sân khấu còn 1 người chuyển ngữ khác, rất đặc biệt.

Đó là chị Huỳnh Thị Cát Viên, giáo viên Trường khuyết tật thính giác Hy Vọng 1 (TPHCM). Chị được mời làm người chuyển nội dung nói chuyện của Nick thành ngôn ngữ ký hiệu (còn gọi là thủ ngữ, dấu tay) cho người khiếm thính “nghe” hiểu được nội dung Nick nói.


Chị Cát Viên được mời làm người chuyển nội dung nói chuyện của Nick thành ngôn ngữ ký hiệu

Khi phải diễn thuyết cho khán giả không cùng ngôn ngữ, người chuyển ngữ là rất quan trọng quyết định sự thành bại của chương trình. Bởi nếu người chuyển ngữ không thể chuyển tải hết cái thần, ngữ điệu của diễn giả mà chỉ đơn thuần dịch chuẩn thì chẳng khác nào diễn giả đang đọc diễn văn chứ không phải là diễn thuyết, dẫn dắt và truyền cảm hứng cho khán giả.

Với người khiếm thính, người chuyển ngữ trong những buổi nói chuyện như thế này càng quan trọng hơn. Bởi nếu không người chuyển ngữ sang ngôn ngữ ký hiệu, họ sẽ hoàn toàn không thể nghe thấy để hiểu nội dung buổi nói chuyện. Tuy nhiên, để thông dịch tốt cho người khiếm thính thì cần 1 người chuyển ngữ có kinh nghiệm và am hiểu mọi lĩnh vực đời sống, vốn từ “thủ ngữ” đầy đặn…

Chị Cát Viên là một thông dịch viên ngôn ngữ ký hiệu khá có tiếng tại TPHCM. Chị có thâm niên hơn 10 năm làm thông dịch cho người khiếm thính tại các hội thảo, hội nghị… Từ tháng 3/2010, chị thường xuất hiện trên kênh HTV9 của Đài truyền hình TPHCM với vai trò là MC cho bản tin thế giới dành riêng cho người khiếm thính phát vào lúc 15h hàng này (trừ chủ nhật).

Chị còn có kinh nghiệm nhiều lần tham gia thông dịch cho người khiếm thính phạm tội trước tòa… Do đó, chị Cát Viên là người chuyển ngữ khá phù hợp để đảm bảo chất lượng chuyển ngữ cho buổi nói chuyện của Nick ở TPHCM.

Dù rất vui vì được mời làm người chuyển ngữ cho Nick nhưng chị cũng không hài lòng với chất lượng buổi dịch cuộc nói chuyện trong chương trình “Chào Việt Nam” của Nick Vujicic diễn ra tại TPHCM ngày 22/5.
Đơn giản vì để người khiếm thính “nghe hiểu” được người chuyển ngữ nói gì thì họ phải thấy rõ dấu tay và biểu hiện nét mặt của người chuyển ngữ. Thế nhưng, trong chương trình này chị Cát Viên được bố trí ở 1 góc sân khấu xa tít, ánh đèn không bao giờ chiếu tới.


Vị trí đứng của chị Cát Viên khá xa sân khấu chính và tối


Chụp hết sân khấu cũng không thấy chị Cát Viên ở đâu


Còn bị che khuất bởi bảo vệ và người BTC

Anh Nguyễn Văn Cử, một người khuyết tật có tham gia chương trình cho biết: “Tôi nhìn còn không thấy mặt người chuyển ngữ để biết đó là ai nữa thì làm sao mà “nghe hiểu” được”. Do đó, khả năng “nghe hiểu” của những người khiếm thính tham gia trực tiếp tại chương trình hôm đó là rất ít.

Một điểm khác là khi lên sóng truyền hình, hình ảnh người chuyển ngữ ngôn ngữ kí hiệu thường nằm 1 góc của màn hình. Chương trình “Chào Việt Nam” của Nick có truyền hình trực tiếp nhưng hình ảnh người chuyển ngữ ngôn ngữ ký hiệu không hề xuất hiện trên màn hình tivi. Thế là hy vọng xem buổi nói chuyện của Nick qua truyền hình của người khiếm thính cũng tiêu tan.

Trong khi ý định ban đầu của ban tổ chức rất tốt là mong muốn cho người khiếm thính theo dõi được chương trình này nên đã sắp xếp mời chị Cát Viên làm người chuyển ngữ.

Thế nhưng, do bố trí không hợp lý nên vai trò của người chuyển ngữ đặc biệt trong chương trình này hầu như mất hẳn. Có thể nói đó là 1 điểm trừ lớn cho chương trình truyền hình trực tiếp được tổ chức công phu, hoành tráng và tốn kém.

Tuesday, May 21, 2013

Nên nói gì khi nói về dịch thuật?

* YTCxHCMC xin trân trọng giới thiệu với cộng đồng dịch giả trẻ nội dung bài viết nhan đề "Nên nói gì khi nói về dịch thuật?" được đăng trên trang mạng báo Tuổi Trẻ vào ngày 03/05/2013. Đây là một bài báo có tính gợi mở cao đặc biệt hữu ích đối với những ai đang muốn tìm hiểu sâu hơn về người làm nghề dịch thuật như một nghề nghiệp, trong giới hạn phân ngành biên dịch, chuyên ngành văn chương.

Nếu tính từ lỗi sai "bố mất vì ung thư tử cung" trong bản dịch Hạt cơ bản đến lỗi "thuốc bôi chân của bác sĩ Scholl" (Dr. Scholl foot powder) trong quyển Những thứ họ mang, độc giả hẳn sẽ rất hoang mang khi cầm trên tay bản dịch một danh tác mà không biết liệu nó có lỗi sai nào "bất hủ" kiểu như thế không.

Những tranh luận về dịch thuật vẫn đang tiếp tục nổ ra trên mạng với cả ngàn lời bình luận. Nhu cầu có một bản dịch tốt là điểm gặp nhau giữa người dịch và người đọc, với cả những đơn vị làm sách nghiêm túc. Tuy nhiên, dịch vừa là lựa chọn riêng của dịch giả, vừa phải thỏa những tiêu chuẩn chuyển ngữ mà lắm khi điều đó là áp lực.

Dịch giả, anh đang làm gì?

Nói như dịch giả, nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh, dịch giả chuyên nghiệp trước hết phải kiếm sống được bằng nghề dịch, và luôn tìm mọi cách để nâng mình lên qua quá trình dịch thuật. Ðiều này cho thấy sẽ là bất ổn trong nghề nghiệp nếu một dịch giả vào lúc tám năm trước đây từng lên tiếng phê bình cách dịch ẩu của đồng nghiệp, thì nay đến lượt anh lại bị đồng nghiệp chỉ ra các lỗi dịch sai cũng do... ẩu.

Tất nhiên, nghề nào cũng có khó khăn, và những khó khăn thuộc hàng khổ tâm của nghề dịch từng được dịch giả Phạm Viêm Phương than thở: "Người dịch xem ra cũng không khác giáo viên coi thi lắm. Khi làm tốt công việc thì chẳng được khen, nhưng có sơ suất là bị kỷ luật (với giáo viên) hoặc bị dán nhãn "thảm họa" hay "dịch loạn" dễ dàng".

Công việc ấy ông Phương cho là không dễ dàng gì, và dịch giả khi tự chọn cho mình con đường này chỉ còn cách nỗ lực "chuyển tải tinh thần và ý nghĩa (gọi ngắn gọn là nội dung) và cú pháp, văn phạm, thành ngữ... (gọi chung là văn phong) của tác phẩm". Chỉ hai yêu cầu cơ bản ấy thôi, việc dịch đã trở thành nỗi trăn trở thường trực của nhiều thế hệ dịch giả. Học giả Nguyễn Hiến Lê từ năm 1957 từng cho rằng: "Theo nguyên tắc, đã gọi là dịch thì phải giữ đúng tư tưởng, cả cách hành văn của tác giả nữa, vì ta không thể nào thay đổi cách hành văn mà không thay đổi tư tưởng được".

Nhà văn Lý Lan, dịch giả tác phẩm Harry Potter từng được nhiều độc giả Việt Nam hâm mộ, quan niệm rằng "dịch văn học thực chất là viết lại bằng ngôn ngữ khác một tác phẩm mà người dịch có trong đầu sau khi (hay trong khi) đọc nguyên tác. Và viết là một kỹ năng rất khác nhau ở mỗi người, ngay cả nhà văn chuyên nghiệp cũng không phải luôn luôn diễn đạt được hết ý mình và truyền cảm với độc giả. Huống chi là ý tình lời lẽ của người khác...".

Một công việc quan trọng nữa là dịch giả thường dễ "chết" với hệ ngữ vựng chuyên ngành. Cũng chính sự thiếu cẩn trọng trong việc dịch các từ chuyên ngành binh bị khí tài trong nguyên tác của Tim O’Brien khiến cho bản dịch Những thứ họ mang của Trần Tiễn Cao Ðăng có những lỗi kiểu như "trip flares" là pháo sáng cài bẫy lại được dịch là đèn pin mà nhiều dịch giả đã phát hiện.

Một vài quan điểm cần chia sẻ

Dịch giả Lý Lan đã có một ví von đắt giá khi so sánh: "Người đọc tác phẩm văn học dịch nên hiểu là mình ăn cơm mớm, món ăn đã được ngào với nước bọt của người nhai, có thể trở nên đậm đà, dễ tiêu, hay nhiễm trùng, mất dinh dưỡng, nhưng chắc chắn không còn hương vị và phẩm chất nguyên thủy nữa". Ðây cũng chính là mấu chốt để hình thành quan niệm "không thể có bản dịch hoàn hảo hay dịch giả hoàn hảo".

Ngay cả dịch giả Nguyễn Hiến Lê cũng thừa nhận: "Nếu tìm không thấy cách nào phô diễn được hoàn toàn đúng ý của tác giả thì chẳng thà bỏ bớt những tế nhị đặc biệt của ngoại ngữ đi, mà giữ cho câu văn dịch cái tính cách Việt Nam. Hễ dịch thì phải cam chịu đánh mất một phần cái hay trong nguyên tác. Giữ được chừng nào thì giữ, không giữ được thì phải bỏ". Ở điểm này, dịch giả Phạm Viêm Phương cùng quan điểm: "Chúng tôi rất thường phải hi sinh chút ít một trong hai mặt, thường là hi sinh văn phong". Cũng theo ông Phương, điều nan giải này luôn là trăn trở của người dịch trong từng câu một. "Thông thường một bản Việt trôi chảy, dễ đọc, thậm chí còn trầm bổng, rất dễ được chấp nhận hoặc khen ngợi (không cần đối chiếu bản gốc), còn một bản dịch ít Việt hóa (tức tôn trọng văn phong của tác giả) dễ bị dán nhãn "sặc mùi Tây". Tại sao chúng ta không tìm thấy cái hay và thú vị trong lối diễn đạt của nước ngoài, qua đó làm cách sử dụng tiếng Việt được phong phú và uyển chuyển hơn?" - ông Phương nêu phản biện.

Ở một góc độ khác, nhà báo Nguyễn Vạn Phú nhìn nhận: "Dịch thuật là một nghệ thuật đòi hỏi những kỹ năng khác hẳn chuyện hiểu, sử dụng thành thạo một ngoại ngữ. Lạ một điều là bất kỳ ai có chút kiến thức về ngoại ngữ cũng có thể tham gia tranh luận cách dịch thuật, mà tranh luận rất hăm hở là đằng khác. Theo tôi, cái chuẩn mực trong dịch thuật là làm sao để đến khi thuật ngược lại cho tác gia văn bản gốc nghe, họ sẽ bảo đó không hoàn toàn là những điều tôi viết nhưng ý tôi đúng là như thế đấy - vậy là đạt".

Dù vậy, "thách thức lớn đối với người dịch không chỉ là am hiểu văn hóa và ngôn ngữ của nguyên tác, mà còn là khả năng sáng tạo ngôn ngữ mà mình dịch ra. Khả năng đó bao hàm cách dụng từ ngữ, câu cú sao cho văn có giọng có hồn có sắc" - dịch giả Lý Lan khẳng định.

LAM ĐIỀN

--

Nếu không có những người dịch thuật...

Đọc một tác phẩm văn chương của nước ngoài thấy hay, độc giả có khi chỉ nhớ tên tác giả. Nếu chưa thấy hay, hoặc cho là dở, độc giả chỉ trách cứ dịch giả. Cái nghề dịch thuật nhiều lúc bạc bẽo là thế. Càng bị bạc bẽo hơn nếu như độc giả không am hiểu và không đồng cảm thì có khi chỉ một vài lỗi sai của bản dịch mà phê phán, chỉ trích dịch giả nặng lời, xóa toẹt cả công lao của họ đã lâu nay đưa đến cho mình những tác phẩm được ngợi khen. Góp ý, chỉnh sửa cho các dịch giả là cần, nhưng đừng quên chúng ta đã đọc các bản dịch hay khác của họ và xuýt xoa tán thưởng.

Ai làm nghề dịch đều biết không bản dịch nào hoàn chỉnh theo nghĩa đúng một trăm phần trăm. Không thể có bản dịch nào đặt trùng khớp hoàn toàn với bản gốc, dù chỉ với một lý do hiển nhiên là không có hai ngôn ngữ giống nhau hoàn toàn. Sai sót, có lúc sai lầm, luôn là một yếu tố đi liền với quá trình dịch. Có sai thì có sửa. Một tác phẩm văn chương nước ngoài có thể có nhiều bản dịch trong một thứ tiếng, thí dụ như cuốn tiểu thuyết Hoàng tử bé của Antoine de Saint-Exupéry đã có gần chục bản dịch tiếng Việt. Mỗi bản một khác và bản nào cũng đem lại cho người đọc những rung động sâu xa về tấm lòng của nhà văn phi công Pháp đối với con người và hành tinh ta sống.

Tôi cũng là một người dịch, nhưng đứng từ góc độ một người đọc tôi luôn biết ơn các dịch giả nhiều thế hệ, đặc biệt là lớp dịch giả trẻ hiện nay dám dũng cảm bước vào địa hạt dịch văn chương, đã cho tôi được sống cùng nhân loại và thế giới bằng những tác phẩm họ dịch. Còn gì sung sướng hơn trong cuộc sống hôm nay được đọc một tác phẩm như tiểu thuyết Người trong bóng tối của nhà văn Paul Auster bản tiếng Việt do Trịnh Lữ dịch tại Việt Nam ra cùng lúc với bản tiếng Anh The man in dark ở Mỹ vào ngày 19-8-2008.

Nếu không có những người dịch thuật... Mệnh đề này là phi thực. Những người dịch thuật văn chương đang có đó, họ có sai hãy giúp họ sửa sai một cách lành mạnh, đúng đắn bằng cách chia sẻ và động viên, cổ vũ họ tiếp tục hoàn thiện nghệ thuật dịch của mình.

PHẠM XUÂN NGUYÊN

Saturday, April 13, 2013

“Thảm họa” chuyển ngữ

* YTCxHCMC xin trân trọng giới thiệu với cộng đồng dịch giả trẻ nội dung bài viết nhan đề "Thảm họa chuyển ngữ" được đăng trên trang mạng báo Sài Gòn Giải phóng vào ngày 12/04/2013. Đây là một hệ quả tất yếu của việc dịch thuật không được coi trọng như một nghề nghiệp, mà thực tế là hiện tại Việt Nam chưa có bất cứ hội nào của riêng những người làm nghề dịch.

Trên mạng xã hội vừa lan truyền một tấm ảnh thể hiện một “thảm họa” về chuyển ngữ trên tấm bia đá gắn trước cây gạo Đền Mõ tại Hải Phòng - một cây cổ thụ đã được công nhận là Cây di sản Việt Nam.

Tấm bia gồm 3 phần: phần trên ghi bằng tiếng Việt “Cây gạo đại thụ - Trồng năm 1284 (Giáp Thân)”. Phần tiếp theo được chuyển ngữ sang tiếng Anh như sau: Plant rice University Acceptance – Planted in 1284 (Body Armor). Phần thứ ba ghi bằng tiếng Trung Quốc (ảnh).


Xem xét phần chuyển ngữ bằng tiếng Anh trên tấm bia, cư dân mạng cho rằng đây là một “thảm họa” chuyển ngữ bởi người dịch đã dựa vào công cụ Google Translate với cách dịch “từ sang từ” cực kỳ ngô nghê và vô nghĩa. Theo đó: từ “cây” được dịch thành “plant”, từ “gạo” thành “rice”, “đại” thành “university”, “thụ” thành “acceptance”. Kinh ngạc hơn, từ “Giáp” trong chữ “Giáp Thân” được dịch thành “Armor” – nghĩa là áo giáp, còn chữ “Thân” được dịch thành “Body”.

Nguồn của bức ảnh trên từ một phóng sự ảnh trên trang web “Diễn đàn trí thức Thủ đô” (husta.org.vn) của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Hà Nội. Phóng sự tường thuật lại lễ công nhận cây gạo cổ thụ hơn 700 tuổi ở khu vực đền chùa Mõ, thôn Nghi Dương, xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy, TP Hải Phòng là Cây di sản Việt Nam từ năm 2011.

Thursday, November 15, 2012

Tọa đàm "Định hướng phát triển tình nguyện"

* YTCxHCMC trân trọng giới thiệu bài viết về tọa đàm "Định hướng phát triển tình nguyện" do Trung tâm Công tác Xã hội Thanh niên Tp.HCM tổ chức. Nhóm dịch giả do YTCxHCMC giới thiệu gồm Nguyễn Như Ngọc, Trần Phương Hi và Nguyễn Phạm Anh Khoa là các phiên dịch viên chính thức của tọa đàm này.

Chiều ngày 23/8/2012, tại Hội trường Trung tâm Công tác Xã hội Thanh niên Thành phố đã diễn ra buổi tọa đàm thảo luận về các nội dung liên quan đến việc hoạt động công tác xã hội của các CLB Đội nhóm trên địa bàn thành phố do Trung tâm Thông tin nguồn lực tình nguyện khu vực miền Nam (VIRC) tổ chức. Buổi tọa đàm thu hút gần 20 đội nhóm trưởng thuộc các Câu lạc bộ, đội nhóm tình nguyện tại các trường đại học, cao đẳng, cơ sở xã hội, các nhóm tình nguyện tự lực.


Chị Milena (ngồi giữa) - Cố vấn dự án VDVN chủ trì buổi tọa đàm

Tại buổi tọa đàm, đại diện các câu lạc bộ, đội, nhóm đã nêu lên các điểm nổi bật trong việc tổ chức các hoạt động công tác xã hội như: thu hút tình nguyện viên tham gia ngày càng đông, nôi dung hoạt động đa dạng… Bên cạnh đó, đại diện các nhóm tình nguyện viên cũng nêu các mặt còn hạn chế trong quá trình vận hành, tổ chức các hoạt động công tác xã hội như các kỹ năng mềm, phương pháp hoạt động, kỹ năng viết dự án…



Đại diện các câu lạc bộ, đội, nhóm tham dự tọa đàm

Ngoài ra, các nhóm tình nguyện cũng nêu một số đề xuất như tổ chức các lớp tập huấn chuyên đề công tác xã hội, các lớp đào tạo kỹ năng và thảo luận các hình thức kết nối hoạt động tình nguyện trong khu vực và giữa các đội, nhóm với nhau… nhằm mục đích nâng cao chất lượng trong việc chăm lo cho các đối tượng xã hội.

(Tin, ảnh: Văn phòng Kết nối tình nguyện)

Thursday, October 4, 2012

Hướng dẫn sử dụng phần mềm mã nguồn mở OmegaT hỗ trợ dịch thuật

* YTCxHCMC trân trọng giới thiệu bài hướng dẫn cài đặt và sử dụng phần mềm OmegaT (mã nguồn mở và hoàn toàn miễn phí, tương thích với hầu hết mọi hệ điều hành phổ biến). Bài hướng dẫn ở định dạng phim trình chiếu thao tác trên màn hình có thuyết minh bằng tiếng Anh do dịch giả Nguyễn Quốc Dũng thiết kế riêng cho Cộng đồng Dịch giả trẻ.



Tuesday, October 2, 2012

Một số lớp tiếng Anh cá nhân

* YTCxHCMC trân trọng giới thiệu đến quý anh chị có nhu cầu về lớp tiếng Anh giao tiếp chất lượng cao tại nhà, lớp tiếng Anh phổ thông cho sinh viên và nhân viên văn phòng và lớp tiếng Anh tự học khám phá bản thân. Đây là những lớp học có giá cả và chất lượng hợp lý dành cho những ai quan tâm.

Lớp học tiếng Anh giao tiếp chất lượng cao tại nhà

Cô giáo nhiều năm kinh nghiệm làm việc cho các tổ chức quốc tế. Phương pháp giảng dạy trực quan và phản xạ giúp người học tự ôn luyện lại kiến thức ngôn ngữ nền tảng và trau dồi kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Anh. Đặc biệt chương trình học còn có những buổi thực hành biên phiên dịch hữu ích cho các anh chị học viên muốn tìm hiểu khả năng dịch thuật của bản thân.

Địa điểm học: tại nhà riêng, không gian yên tĩnh trong hẻm đường Nguyễn Xí (Quận Bình Thạnh).

Thời gian: các tối thứ Hai-Tư và thứ Ba-Năm hàng tuần, từ 19:00 đến 20:30.

Học phí: 2.000.000đ/khóa/3 tháng (Sĩ số lớp không quá 20 người)

Để đăng ký, liên hệ cô Liên Tường qua địa chỉ lientuong76@yahoo.com.vn.

Lớp tiếng Anh phổ thông cho sinh viên và nhân viên văn phòng

Cô giáo đã có kinh nghiệm học tập và làm việc tại Mỹ được 6 năm. Khóa học được thiết kế để giúp người học trong việc trau dồi tiếng Anh và nâng cao khả năng giao tiếp với người nước ngoài. Khóa học sẽ tập trung luyện 3 khả năng nghe, nói và đọc cho học viên. Các học viên sẽ được học miễn phí cho 2 tuần đầu tiên, sau đó nếu muốn tiếp tục thì mới phải đóng tiền.

Địa điểm học: 88/99 Nguyễn Văn Quỳ, quận 7.

Thời gian học: ngay khi đủ số lượng học viên.

Học phí là 600.000đ/tháng. (sĩ số lớp không quá 20 người)

Khóa học đầu tiên (trong 3 khóa) sẽ khai giảng vào ngày 15/10/2012.

Để đăng ký, liên hệ cô cô Thúy Vy qua địa chỉ thuyvy44@gmail.com hoặc số điện thoại: 0905 104 849.

Lớp tiếng Anh tự học khám phá bản thân

Thầy Tuệ Năng, thành viên sáng lập YTCxHCMC, đã có kinh nghiệm nhiều năm trong các hoạt động cộng đồng, nghiên cứu văn hóa - ngôn ngữ và tham dự nhiều chương trình hội thảo, hội nghị quốc tế ở nước ngoài.

Khóa học hoàn toàn bằng tiếng Anh thiết kế theo yêu cầu riêng của từng nhóm học viên đã có nền tảng nghe nói tốt, với mục tiêu chính nhằm giúp học viên xác định mục tiêu học tiếng Anh, khám phá năng lực của bản thân, củng cố điểm mạnh và cải thiện điểm yếu, cách tự học chủ động hiệu quả và tiết kiệm thời gian thông qua sáng tạo cá nhân.

Địa điểm học: 168/2 Đặng Văn Ngữ, Quận Phú Nhuận, hoặc địa điểm khác do học viên và thầy giáo tự thỏa thuận.

Thời gian học: ngay khi đủ số lượng học viên, học từ 18:30 đến 20:30 hoặc thời gian khác do học viên và thầy giáo tự thỏa thuận.

Học phí là 800.000đ/khóa/8 buổi (90-120 phút/buổi, mỗi tuần 2 buổi). (sĩ số lớp không quá 8 người)

Để đăng ký, liên hệ thầy Tuệ Năng (Jaka) qua địa chỉ inrajaka@gmail.com hoặc số điện thoại 0919 174 987.

Công việc thông ngôn tại Liên Hiệp Quốc diễn ra như thế nào?


* YTCxHCMC xin trân trọng giới thiệu với cộng đồng dịch giả trẻ một vài thông tin sơ nét về công việc phiên dịch đồng thời trong môi trường hội nghị của Liên Hiệp Quốc. Bài viết được đăng trên trang mạng báo An Ninh Thế giới vào ngày 26/03/2005.

Theo quy định của Liên Hiệp Quốc (LHQ), ngôn ngữ chính thức dùng trong các hoạt động của tổ chức này gồm 6 thứ tiếng xếp theo vần A, B, C của tiếng Anh là Arập, Trung Quốc, Anh, Pháp, Nga và Tây Ban Nha. 6 thứ tiếng đều có hiệu lực ngang nhau. Đại biểu các nước có thể sử dụng 1 trong 6 thứ tiếng nói trên. Tuy nhiên, trong giao dịch thường ngày, Ban thư ký chỉ dùng tiếng Anh và tiếng Pháp.

Tại các cuộc họp chính thức, Ban thư ký có trách nhiệm dịch “đuổi” phát biểu của các đại biểu ra 6 thứ tiếng. Các văn kiện chính thức kể cả các bài phát biểu quan trọng đều in bằng 6 thứ tiếng, còn những văn kiện thông thường chỉ dùng tiếng Anh và tiếng Pháp.

Đại biểu các nước đều rất coi trọng ngôn ngữ của Tổ quốc mình, vì thế trong các cuộc họp chính thức đều phải bố trí đủ phiên dịch để dịch ý kiến phát biểu của các nước ra 6 thứ tiếng. Nếu dịch thuật sai sót, đại biểu nước đó sẽ bày tỏ thái độ phản kháng bằng cách rời khỏi phòng họp. Để hoàn thành nhiệm vụ quan trọng này, Ban thư ký của LHQ đã có một đội ngũ đông đảo phiên dịch viên, bao gồm dịch nói và dịch viết tới 470 người. Tuy đông như thế, nhưng tại các kỳ họp Đại hội đồng LHQ hằng năm, lực lượng phiên dịch vẫn chưa đáp ứng, phải mời thêm một số phiên dịch của LHQ đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác tới giúp sức.

Tại mỗi vị trí đại biểu trong hội trường lớn đều có một tai nghe, có thể nghe được cả 6 thứ tiếng, đại biểu muốn nghe bằng ngôn ngữ nào tùy ý chọn lựa bằng cách ấn vào nút của thứ tiếng đó. Giữa các ngôn ngữ: Anh, Pháp, Nga và Tây Ban Nha, chẳng những về mặt kết cấu ngữ pháp có phần nào giống nhau mà về từ ngữ cũng có nhiều từ tương tự, người phiên dịch vừa nghe vừa dịch đuổi theo không mấy khó khăn. Riêng đối với tiếng Trung Quốc thì khác, phải nghe hết câu mới dịch được, nếu không sẽ khó dịch một cách chính xác.

Nhiều đại biểu lại không phát biểu bằng tiếng Anh, cho nên phiên dịch tiếng Trung phải đợi người ta dịch ra tiếng Anh rồi mới dịch được ra tiếng Trung. Cũng như vậy, phần dịch văn bản cũng rất chậm, nên số phiên dịch tiếng Trung là đông nhất.

Tại các cuộc họp Đại hội đồng LHQ và Hội đồng Bảo an LHQ, chẳng những phải dịch “đuổi” 6 thứ tiếng mà còn phải ghi chép biên bản bằng 6 thứ tiếng, hơn thế nội dung của 6 biên bản bằng 6 thứ tiếng phải hoàn toàn thống nhất. Vì thế, sau phiên họp phải lấy biên bản một thứ tiếng làm gốc để hiệu đính biên bản của 5 thứ tiếng kia cho thống nhất hoặc lấy biên bản một thứ tiếng làm gốc rồi dịch lại.

Các văn kiện của Đại hội đồng LHQ và Hội đồng Bảo an LHQ theo quy định đều phải dịch chính xác và in ấn kịp thời, để trao cho đại biểu các nước vào 6 giờ ngày hôm sau. Nếu không đáp ứng được yêu cầu này, các nhân viên hữu quan sẽ bị mất việc. Nói chung, các loại văn kiện đều có ghi rõ thời gian phải hoàn thành. Nội dung các văn kiện của LHQ liên quan đến phạm vi rất rộng,  điều đó yêu cầu người phiên dịch phải giỏi ngoại ngữ, có hiểu biết rộng về nhiều lĩnh vực và có năng lực diễn đạt bằng ngôn ngữ. Bản dịch in mực đen trên giấy trắng, thời hạn lưu trữ lâu dài, chỉ cần một sai sót nhỏ là các đoàn đại biểu có liên quan góp ý rồi yêu cầu đính chính hoặc dịch lại.

Thực ra, đảm nhiệm công tác phiên dịch ở LHQ còn phải có trình độ chính trị cao. Các vấn đề thảo luận tại Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an bao gồm nhiều vấn đề tranh chấp quốc tế, việc dùng từ ngữ phải thể hiện sự nhạy cảm về chính trị. Công tác ngôn ngữ tại LHQ phục vụ cho sự hoạt động của các đoàn đại biểu các quốc gia, do đó phải khách quan, phải thực sự tôn trọng tất cả các đoàn đại biểu, không vì các vấn đề có tranh chấp mà có thái độ không đúng mực với các đoàn đại biểu có liên quan.

Người phiên dịch phải nắm được tình hình thế giới, hết sức nhạy cảm đối với các vấn đề tranh chấp. Ví dụ: LHQ chỉ thừa nhận một nước Trung Quốc, tức là nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bốn chữ “Trung Hoa dân quốc” tuyệt đối không được xuất hiện trong các văn kiện của tổ chức quốc tế rộng lớn này, khi cần nhắc tới “Đài Loan” phải thêm từ “vùng”.

Sunday, September 30, 2012

Hội viên nghĩ gì về YTCxHCMC?

Trong phần đăng ký thông tin thành viên của YTCxHCMC, người đăng ký được hỏi vì sao muốn tham gia làm hội viên của mạng lưới người dịch trẻ tại Tp.HCM và sau đây là một số lí do chung nhất:

- Phát triển kĩ năng ngôn ngữ giao tiếp và chuyên ngành
- Phát triển năng lực biên phiên dịch
- Thử thách bản thân
- Thiết lập mạng lưới giao lưu, kết bạn, học hỏi
- Tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp
- Mô hình hoạt động chuyên nghiệp và năng động
- Yêu ngoại ngữ
- Cống hiến cho Cộng đồng Dịch giả trẻ vững mạnh hơn
- Có kinh nghiệm, chuyên nghiệp khi ra trường
- Nhiều cơ hội nhận quà tặng từ các buổi hội thảo và nhiều cơ hội nghề nghiệp.
- Vì là cựu sinh viên Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (cái này thì đúng định hướng ban đầu khi mình được mời về xây dựng và tổ chức mô hình)
- Thích làm từ thiện và tình nguyện

YTCxHCMC chân thành cảm ơn N.P.A.K đã giúp tổng hợp và biên tập danh mục này.

International Translation Day - Ngày Dịch thuật Quốc tế

Ngày Dịch thuật Quốc tế mỗi năm vào ngày 30 tháng 9 theo ngày mất của Jerónimo de Estridón, người đã dịch Kinh Thánh từ tiếng Hi Lạp và Do Thái sang tiếng Latin và được xem là cha đẻ của ngành dịch thuật.

Các hoạt động kỷ niệm hàng năm được Liên đoàn Dịch giả Quốc tế (FIT) đề xuất ngay từ khi tổ chức này được thành lập vào năm 1953. Đến năm 1991, FIT chính thức phát động ý tưởng về Ngày Dịch thuật Quốc tế để thể hiện sự đoàn kết trong cộng đồng người dịch trên toàn thế giới, tôn vinh vai trò của dịch thuật trong cuộc sống và cũng để phát huy nghề biên phiên dịch tại tất cả các quốc gia (không chỉ gói gọn trong các quốc gia có quốc giáo là Thiên chúa). Ngày Dịch giả Quốc tế cũng là dịp để các dịch giả thể hiện niềm tự hào với công việc dịch thuật của mình, một công việc càng ngày càng có vị thế quan trọng trong thời đại toàn cầu hóa.

Ngày Dịch thuật Quốc tế được tổ chức trọng thể tại nhiều nước trên thế giới với nhiều hoạt động phong phú như hội nghị, hội thảo, gặp gỡ, giao lưu… nhằm tôn vinh những người làm dịch thuật, một công việc nhiều nhọc nhằn, lắm công phu, rất cần cái tâm, cái tầm và cái tài.

Tại Việt Nam, YTCxHCMC lần đầu tiên đã tổ chức kỉ niệm Ngày Dịch thuật Quốc tế bằng chuỗi sự kiện giới thiệu công cụ hỗ trợ dịch thuật mã nguồn mở OmegaT cho cộng đồng dịch giả trẻ. Hoạt động ý nghĩa này sẽ được tiếp tục trong tương lai với việc mở rộng mạng lưới Cộng đồng Dịch giả trẻ khắp nơi, đặc biệt tại các thành phố lớn của Việt Nam nhằm tạo một nền tảng bền vững cho việc hình thành một tổ chức nghề nghiệp chính thức của nghề biên phiên dịch. Ngoài ra, một số trang mạng chính thức cũng đã bắt đầu lan truyền thông tin về ngày kỉ niệm này như trang mạng của Hội nhà văn Việt Nam, với một bình luận đáng chú ý của tác giả Lê Bá Thự: "Lạ lùng thay, hình như ở Việt Nam không ai biết có ngày lễ trọng đại này. Ngày 30 tháng 9 hàng năm đã, đang lặng lẽ trôi qua và chẳng biết cái sự lặng lẽ này còn lặng lẽ đến bao giờ?".

YTCxHCMC khuyến khích việc hình thành các nhóm dịch giả (cả biên dịch lẫn thông dịch) và đăng ký thành một phân nhóm (tạm dịch từ "section") của Cộng đồng Dịch giả trẻ (như một nền tảng) tại các thành phố/đại học/quốc gia/khu vực/lục địa cụ thể; với điều kiện lý tưởng nhất là ngôn ngữ nguồn chính của mỗi phân khu phản ánh ngôn ngữ mẹ đẻ chính thức được nói tại khu vực đó. Mỗi phân nhóm sẽ tự tổ chức các buổi gặp gỡ giao lưu ít nhất 1 hoặc 2 lần mỗi tháng để chia sẻ kinh nghiệm về nghề nghiệp với những người đồng nghiệp và sinh viên theo tài liệu tham khảo cơ bản do YTCxHCMC giới thiệu. Mục tiêu của các phân nhóm này là hướng đến việc hình thành một mạng lưới người dịch trẻ thực sự quan tâm đến xây dựng môi trường sinh hoạt nghề nghiệp hướng tới cộng đồng.

*YTCxHCMC là một phân nhóm của Cộng đồng Dịch giả trẻ tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh. Ngôn ngữ hoạt động chính của YTCxHCMC là tiếng Việt và tiếng Anh. Mạng lưới mở rộng của YTCxHCMC bao gồm những người nói tiếng Việt bản ngữ thông thạo các thứ tiếng chính khắp Đông Nam Á hay được dùng chính thức trong các định chế quốc tế như Liên đoàn Arab, Liên Hiệp Quốc hay Liên minh Châu Âu.

Đăng ký thành viên và danh sách các dịch giả đã đăng ký có tại: http://dichgiatre.blogspot.com/p/hoi-vien.html

Các dịch giả tại Tp.HCM có thể đăng ký bằng liên kết mạng: http://goo.gl/wAQTa

Sunday, September 2, 2012

Dịch giả Thúy Toàn: Cần thành lập Hội người dịch Việt Nam

*YTC trân trọng giới thiệu với cộng đồng dịch giả trẻ bài phỏng vấn dịch giả Thúy Toàn đăng trên mạng trên Tuổi Trẻ ngày 12/03/2004. Lưu ý trong bài viết có nhắc đến Hội đồng văn học dịch chỉ là một bộ phận của Hội Nhà văn Việt Nam, không phải là một hội nghề nghiệp đúng nghĩa của riêng những người làm nghề dịch.

"Các cụ đi trước đã chuyển thể thơ Trung Quốc, thơ Pháp, văn học phương Tây sang tiếng Việt… Họ đã để lại nhiều kinh nghiệm, nhưng chúng ta lại chưa biết tổng kết cũng như chưa hình thành được lý thuyết dịch trong nền văn học", dịch giả Thúy Toàn nhận định.

* Vậy trách nhiệm của những dịch giả?

- Xã hội còn coi thường lao động dịch thuật. Nhuận bút xếp rất thấp. Chính bản thân nhiều người dịch cũng ngộ nhận về công việc của mình, xem đó như một công việc dễ dàng chỉ cần chút vốn ngoại ngữ đã có thể trở thành nhà dịch thuật. Trên thực tế, lao động này không chỉ cần ngoại ngữ mà còn phải có vốn tiếng Việt và tầm văn hóa sâu sắc.

* Còn vai trò của nhà lý luận?

- Hoàn toàn chưa có những nhà lý luận phê bình văn học dịch chuyên nghiệp. Người viết bài khen, chê một tác phẩm văn học dịch nhiều khi cũng sai. Chẳng hạn mới đây, NXB Văn hoá - Thông tin đã bị thu hồi cuốn 100 năm giải Nobel vì dịch sai, viết sai quá nhiều. NXB Thông tấn xã ra cuốn Dạy nghề làm báo, nhưng lại bị chính ông Phan Quang, nguyên Chủ tịch Hội nhà báo, phát hiện người dịch không có chút hiểu biết về thuật ngữ báo chí nên dịch sai bét. Chúng ta vẫn nể nang nhau, ngại nói. Nhưng nói ra thì thật nhiều chuyện…toát mồ hôi.

* Và vấn đề bản quyền?

- Chúng ta chưa có ý thức bản quyền. Các cụ quan niệm “tầm chương trích cú” lâu thành nếp quen. Nhiều học giả biên soạn công trình vẫn lấy lại của người khác, chắp nhặt, xào xáo mà thành chứ không có sự sáng tạo. Vì thế hiện tượng vi phạm bản quyền đã trở nên phổ biến.

* Hội đồng văn học dịch đã làm gì để cứu vãn sự xuống dốc của chất lượng dịch?

- Thực ra, một hội đồng như dịch thuật hiện nay không thu hút bao nhiêu thành viên. Cần có tổ chức riêng của những người dịch. Chúng tôi từng có đề cương xin thành lập Hội người dịch Việt Nam nhưng chưa được phê duyệt. Nếu không có tổ chức, mạnh ai người ấy làm, không ai dám có ý kiến.

Saturday, September 1, 2012

YTCxHCMC: Chung tay vì một Cộng đồng Dịch giả trẻ

*Trong năm 2012, YTCxHCMC có mong muốn hỗ trợ hình thành những cộng đồng dịch thuật chuyên môn sâu tại các trường đại học chính ở Tp.HCM, cũng như những nhóm có nhu cầu được YTCxHCMC tư vấn, hỗ trợ về mặt nhân sự hay điều phối. YTCxHCMC trân trọng giới thiệu đến quý anh chị đồng nghiệp thư ngỏ về việc mở rộng mô hình sinh hoạt cho cộng đồng dịch giả trẻ tại Việt Nam.

Kính chào quý anh chị đồng nghiệp,

Để mở rộng mạng lưới, chúng tôi khuyến khích quý anh chi hình thành các nhóm dịch giả (cả biên dịch lẫn thông dịch) và đăng ký thành một phân nhóm (tạm dịch từ "section") của Cộng đồng Dịch giả trẻ (như một nền tảng) tại thành phố/trường đại học/vùng/quốc gia của mình. Lý tưởng nhất là ngôn ngữ nguồn chính của mỗi phân khu phản ánh ngôn ngữ mẹ đẻ chính thức được nói tại khu vực đó. Chúng ta hãy gặp gỡ ít nhất 1 hoặc 2 lần mỗi tháng để chia sẻ kinh nghiệm về nghề nghiệp với những người đồng nghiệp và sinh viên, điều đó sẽ giúp ích cho cộng đồng dịch thuật phát triển tốt hơn.

Hiện tại, YTCxHCMC sẵn sàng điều phối tất cả các hoạt động của Cộng đồng Dịch giả trẻ tại Tp.HCM. Mọi câu hỏi xin vui lòng gửi về hộp thư dichgiatre@gmail.com. Hoặc quý anh chị có thể tham gia trao đổi nhanh tại nhóm Facebook chung tại http://fb.com/groups/youngtranslators.

Chúng tôi rất vui lòng được nhận sự hỗ trợ của quý anh chị. Chúng tôi tin tưởng rằng những ý tưởng tốt đẹp xứng đáng được lan truyền và sẻ chia.

Trân trọng,

YTCxHCMC

*Phiên bản tiếng Anh để phổ biến:

Dear colleagues,

To expand our network, we encourage you to form group of translators and interpreters and register as a section of Young Translators Community (as a platform) in your city/university/region/country. It will works best when the main source language of each section reflects the official mother tongue language spoken in that area. Let's meet up at least one or twice a month to share experience on your career to your colleagues and students, that will help our translation community develop better.

Currently, YTCxHCMC is willing to facilitate all activities of Young Translators Community in Hồ Chí Minh city. Any question please send us an email at dichgiatre@gmail.com. Or you may want to join in our common Facebook group for quick discussion at http://fb.com/groups/youngtranslators.

We are happy to have your support. We do believe good ideas worth spreading and sharing.

Best regards,

YTCxHCMC

Friday, August 31, 2012

Suy nghĩ về dịch thuật - Cao Xuân Hạo

* YTC trân trọng giới thiệu với cộng đồng dịch giả trẻ một tài liệu tham khảo khá hệ thống về dịch thuật của dịch giả kiêm nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo. Bài viết đăng lần đầu trên mạng VietNamNet vào ngày 18/01/2006 trong chuyên đề "Dịch thuật Việt Nam thời @".

Năm 2004 có mấy cuộc hội nghị về dịch thuật tâp hợp những chuyên gia có uy tín trong ngành này, phần lớn đều lấy ba tiêu chuẩn TÍN, ĐẠT, NHà làm căn cứ để thảo luận, trao đổi. Hình như phần lớn đều chỉ băn khoăn về chữ NHà - một nỗi băn khoăn mà chúng tôi nghĩ là hoàn toàn chính đáng, vì chữ NHà hình như chỉ thích hợp với một văn phong nhất định, và khó lòng có thể nói rằng “phàm là một bản dịch thì nhất thiết phải có cái văn phong được gọi là “NHÔ. Nếu nguyên bản không “nhã”, mà lại gồ ghề thô lỗ, thì bản dịch “nhã” chắc chắn là sẽ không thực hiện được chữ “tín”, và sẽ nảy sinh một mâu thuẫn đối kháng ngay trong nội bộ của tiêu chuẩn được đề ra.

Nhưng như thế vẫn chưa hết. Ngay cả chữ ĐẠT cũng có một nội dung rất khó hiểu, khiến ta phải tìm xem những người lấy chữ ĐẠT làm tiêu chuẩn, họ hiểu chữ TÍN như thế nào. Nếu bản dịch hoàn toàn trung thành với nguyên bản (TÍN), nhưng lại rất dở, trong khi nguyên bản là một kiệt tác của văn học thế giới, thì lẽ nào có thể nói rằng đó là một bản dịch trung thành? Người đọc bình thường chắc hẳn phải nẩy ra cái ý nghi ngờ rằng người đặt ra tiêu chuẩn quan niệm chữ TÍN theo cái nghĩa là“sát từng chữ”. Nhưng bất cứ người nào đã học qua một ngoại ngữ, dù chỉ trong buổi học đầu tiên, cũng đã thấy ngay rằng dịch sát từng chữ là cách tốt nhất để dịch sai hoàn toàn[i].

Dĩ nhiên mỗi người có thể có một hay nhiều bí quyết riêng để dịch cho đúng và cho hay theo thẩm năng của họ... Và quan trọng hơn nữa là mỗi người có thể tự cho mình những cái quyền riêng trong cách hiểu, đánh giá và xử lý một văn bản mà mình chọn. Chúng tôi có biết một dịch giả nổi tiếng có mấy mươi bản dịch được xuất bản nhiều lần, đánh giá một nhà văn như Lev Tolstoy là “chưa biết viết văn” và tự ban cho mình cái quyền bỏ từng đoạn dài mấy chục trang của tác giả, đồng thời tự cho mình cái quyền không hiểu tác giả muốn nói gì trong hàng trăm trang khác!

Trong bài này chúng tôi muốn tự bó hẹp trong phạm vi phiên dịch (translation) hiểu theo nghĩa hẹp, gạt ra ngoài mọi công trình sáng tạo, dù vĩ đại đến đâu. Vì vậy trước hết chúng tôi cố tìm một cách định nghĩa có cơ may được nhiều người thừa nhận nhất. Đó là cách định nghĩa của M. Fyodorov (1950): “Dịch là chuyển đạt một văn bản từ một ngôn ngữ này (nguồn) sang một ngôn ngữ khác (đích) một cách trung thành trong chừng mực có thể, cả về nội dung lẫn về hình thức.” Vậy, xét về lý tưởng, sự thay đổi duy nhất mà người dịch có quyền thực hiện là ngôn ngữ, là thứ tiếng mà nguyên bản dùng để biểu đạt những ý nghĩa mà mình muốn biểu đạt, và nhiệm vụ của anh ta chính là dùng một thứ tiếng khác để truyền đạt tất cả những cái gì đã được truyển đạt bằng thứ tiếng kia.

Vậy “những cái đã được truyền đạt” mà người dịch có bổn phận truyền đạt lại một cách trung thành ấy (chữ TÍN, và chỉ một chữ TÍN mà thôi!), là những cái gì? Và người dịch phải có những cách thức nào, phải thực hiện những thao tác nào để làm tròn cái bổn phận ấy? Dĩ nhiên, trả lời câu hỏi này không đơn giản chút nào, vì ngôn ngữ là một thực thể hết sức đa diện, khó lòng có thể phân tích thành một số khía cạnh hữu hạn. Sau đây chúng tôi chỉ mong kể ra những bình diện cơ bản nhất của một văn bản thông thường có thể làm đối tương cho công việc phiên dịch.

1. Thể loại

Một văn bản, dù muốn dù không, cũng phải thuộc một thể loại nhất định, và “tính thể loại” chính là cái mà người dịch phải truyền đạt trước tiên. Tôi đã từng đọc một chồng bản dịch chuyện cổ tích trong đó người dịch truyền đạt những nguyên bản dài từ 2 đến 12 trang thành những thiên tiểu thuyết dài từ 200 đến 500 trang, và rất tự hào vì đã chuyển được những chuyện cổ tích sơ sài buồn tẻ thành những pho tiểu thuyết ly kỳ hấp dẫn đầy những chi tiết tinh vi và những đoạn đối thoại sắc sảo cho thấy một vốn hiểu biết sâu rộng về tâm lý người đời, mà vẫn giữ được y nguyên cốt chuyện của nguyên bản. Dịch giả từ biệt tôi với một nỗi tuyệt vọng khôn xiết không phải đối với mấy ngàn trang tiểu thuyết của mình, mà đối với sự kém cỏi của tôi, người đã không đủ sức hiểu cái giá trị tuyệt vời của cái công trình mà ông đã bỏ ra bấy nhiêu công sức để thực hiện. Ba mươi năm sau, khi chúng tôi gặp lại, vẫn chưa có một nhà xuất bản nào đủ sáng suốt để công bố bộ sách của ông. Ai cũng trả lời ấp úng một câu vô nghĩa: “Hay thì hay tuyệt, nhưng... nó thế nào ấy, không thích hợp lắm”. Tôi trộm nghĩ: cái không thích hợp ở đây chính là tính thể loại.

2. Chuyển thể

Tôi không hề phản đối việc chuyển thể - như đưa lên sân khấu (kịch nói, kịch thơ, tuồng, chèo, cải lương) hay màn ảnh, chuyển tiểu thuyết văn xuôi thành trường ca có vần điệu, chuyển truyện ngắn thành ngụ ngôn, chuyển chuyện cổ tích thành vè hay thành vũ kịch v.v., v.v. Có những tác phẩm được chuyển thể thành công, có tác phẩm được chuyển thể không thành công bằng. Tất cả đều lệ thuộc vào tài năng và công sức của người thực hiện việc chuyển thể. Dù sao thì nhìn chung, qua việc chuyển thể khó lòng tránh khỏi tình trạng mất mát một cái gì đó trong nguyên tác, tuy không phải không có những trường hợp lệ ngoại quý giá, trong đó kết quả của chuyển thể vượt hẳn nguyên tác về giá trị nghệ thuật. Những thí dụ về trường hợp này, có lẽ bất kỳ bạn đọc nào cũng có thể tìm ra một cách dễ dàng. Xin nhắc lại một lần nữa là chúng tôi đang nói đến dịch thuật hiểu theo nghĩa hẹp, cho nên không dám có tham vọng mở rộng phạm vi luận bàn sang những ngành lân cận.

3. Phóng tác

Rất gần gũi với chuyển thể công việc phóng tác, khi một người cầm bút thấy cần sửa đổi nguyên tác ít nhiều để cho tác phẩm thích hợp hơn với một đối tượng nhất định, thường hẹp hơn cái đối tượng mà tác giả hướng tới. Thường thường đó là đối tượng thiếu nhi. Làm việc này thường là một người lấy làm tiếc rằng một tác phẩm hay nào đó có phần không thích hợp với một công chúng lẽ ra có thể hiểu và thưởng thức nó nếu có ai căn cứ vào những đặc thù của lớp người mình đang muốn phục vụ mà cải biên lại chút ít, sao cho nó khớp với công chúng của mình. Nguyện vọng này hoàn toàn chính đáng, có thể thực hiện được và hơn nữa cũng rất cần thiết đối với những người còn phải chờ đợi một sự trưởng thành về trí tuệ mới có thể tiếp cận được một tác phẩm. Cũng xin nói rõ rằng công việc này chỉ có thể làm được với những tác phẩm văn học mà thôi, chứ đối với những tác phẩm nghệ thuật khác thì không ai nẩy ra cái ý phóng tác một bức tranh, một vở kịch câm hay một vũ kịch để cho nó thích hợp hơn với bất kỳ đối tượng nào. Vì một lẽ giản đơn: việc đó không thể nào làm được.

Còn như một loại tác phẩm quan trọng đối với mọi dân tộc như những bái hát ru con (thường là trích mượn từ những bài ca dao) thì công chúng chủ yếu của nó lại chính là “những người chưa đủ trưởng thành về trí tuệ”, nhưng lại không thể phóng tác được, phải hát đúng từng chữ khi ru con, với niềm hy vọng là nó sẽ được ghi lại trong ký ức thành những kỷ niệm không bao giờ phai mờ để sau này nhớ lại, con người trưởng thành sẽ coi nó như một truyền thống vĩnh hằng thiêng liêng nhất, quý giá nhất của dân tộc[ii].

Sau khi đã nói rõ nội dung của những công việc có phần gần gũi với dịch thuật, khi bạn đọc đã có thể có được một khái niệm tương đối rõ ràng về những ranh giới khu biệt giữa dịch thuật với những công việc ấy, chúng tôi xin trình bày công việc dịch thuật như một quá trình gồm có mấy công đoạn tách biệt. Đó là một cách trình bày có tính ước định, chẳng qua để cụ thể hóa những chi tiết nhiều khi khó xác định của cái công việc không lấy gì làm đơn giản này

4. Những công đoạn của việc dịch thuật

Các tác giả của những giáo trình được đem giảng tại các khoa và bộ môn ngôn ngữ học mà chương trình có bao gồm nội dung Dịch thuật thường trình bày công việc của ngành khoa học này dưới dạng một quá trình có bốn công đoạn sau đây:

(1) Phân tích nguyên bản trong ngôn ngữ nguồn (Source Language) để “hiểu” thật rõ tác giả “muốn nói” gì.

(2) Xoá cách ngôn từ hóa của nguyên bản (Deverbalisation of the text)

(3) Phân tích những đặc trưng trong nội dung và hình thức của nguyên bản (qua một siêu ngôn ngữ ước định)

(4) Tái ngôn từ hóa bằng ngôn ngữ đích để có được một văn bản tương đương với nguyên bản (Reverbalisation in the Target Language so that the text obtained would be equivalent to that written in the Source Language).

Dĩ nhiên, cách phân ra thành công đoạn như trên không nhất thiết phải là một quá trình gồm những giai đoạn lần lượt kế tiếp nhau theo trật tự thời gian. Mỗi người dịch có thể làm việc theo một phương thức khác nhau, kê cả những phương thức hoàn toàn mặc ẩn (implicite), thậm chí vô thức (unconscious). Nhưng, cũng như khi nói về quá trình thụ đắc (acquisition) vốn tri thức của người bản ngữ về tiếng mẹ đẻ của mình, muốn dạy cách phiên dịch không thể có cách gì ngoài cách hiển ngôn hóa (explicitating), nghĩa là nói ra thành lời một cách tỏ tường để người học nhận thức được từng chi tiết, từng giai đoạn của quá trình thụ đắc vốn tri thức cần thiết. Ta hãy xét kỹ từng công đoạn trong quá trình làm việc của người phiên dịch có tri thức hiển ngôn về quá trình này.

(1), (2) Hiểu và phi ngôn từ hóa nguyên bản (xóa hết những từ ngữ của nguyên bản)

Câu hỏi tất nhiên phải nảy sinh trong tâm trí người đọc trước hết là: tại sao lại phải xóa những từ ngữ của nguyên bản, và sau khi làm như vậy, thì trong trí nhớ của người phiên dịch phỏng còn sót lại được những gì?
Người có kinh nghiệm và kỹ năng dịch thuật[iii] sẽ đáp:

- Không ai có thể nhớ hết từ ngữ trong một lời phát biểu ở hội nghị, nếu dịch miệng. Người dịch chỉ nhớ cái nghĩa của lời phát biểu. Người dịch viết có kinh nghiệm cũng biết rằng khi hiểu một câu văn, người dịch phải quên cách biểu đạt câu ấy bằng những từ ngữ gì. Sự quên lãng này sẽ càng ngày càng trở nên tự nhiên, thậm chí tự phát. Trong tâm trí người nghe (người đọc), những từ ngữ của nguyên bản lập tức bị quên đi để nhường chỗ cái ý mà tác giả muốn truyền đạt. Có thế người nghe (người đọc) mới hiểu được cái ý ấy.

- Vậy cái ý ấy cụ thể là cái gì, khi đã quên hết cách diễn đạt nó bằng những từ ngữ vốn làm thành cái bệ đỡ vật chất của nó?

- Cái ý ấy thường được giữ lại trong ý thức của người nghe (hay người đọc) dười dạng những hình ảnh về những gì đã được thuật lại bằng lời. Những hình ảnh này có thể tĩnh (tư thế, dáng vẻ) hay động (động tác hay sự thay đổi tư thế, hình dáng). Ngoài ra, những hình ảnh này lại phải được đặt trên bối cảnh của những hình ảnh đã có trong văn cảnh trước đó, rồi lại được cắt nghĩa bằng những tri thức phổ thông (ngoài ngôn ngữ học) của người nghe hay người đọc.

Những người nghe dịch miệng trong hội nghị thường kinh ngạc trước cái trí nhớ “kỳ dị” của người phiên dịch chính là vì cứ tưởng anh ta nhớ hết các từ ngữ, trong khi thật ra anh ta chỉ nhớ cái nghĩa, cái ý mà người kia muốn nói ra thôi. Người dịch viết cũng không hề làm khác, nếu anh ta đã thực sự hiểu tác giả muốn nói gì. Ở đây chỉ cần lưu ý một chút nữa để thấy cần phân biệt mấy chữ muốn nói gì với những câu hỏi về nguyên do (tại sao mà nói thế?) về động cơ (nói thế để làm gì?).

Nói tóm lại, phi ngôn từ hóa nguyên bản không hề gây trở ngại cho người dịch mà chính là tạo một điều kiện không thể thiếu để họ có thể dùng nội quan (introspection) soi sáng tâm trí mình để thoát ra ngoài những từ ngữ có thể gây nên những tạp âm (noise - hiểu theo nghĩa của lý thuyết thông tin) có hại cho hoạt động “hiểu” (comprehension) của tâm trí nếu người nghe không quên ngay đi để chỉ tập trung vào việc hiểu cho đúng tác giả muốn nói gì, muốn mình hình dung được những hình ảnh nào.

(3) Công việc tìm hiểu cái nghĩa, cái ý mà tác giả muốn nói sẽ được nhận thức một cách minh xác hơn nữa khi ta phân tích một cách hiển ngôn, bằng siêu ngôn ngữ của ngôn ngữ học và của ngữ dụng học (nhất là trong những hành động ngôn từ (speech acts) của tác giả và của các nhân vật, trong đó có những câu được gọi là câu ngôn hành - performative sentences)

Những bình diện của lời nói và của văn bản đều được quan tâm phân tích đến mức chi ly, để không bỏ sót bất kỳ một chi tiết nào.

Tuy nhiên không nên nghĩ rằng hiểu một văn bản là một quá trình làm việc công phu đòi hỏi một thời gian dài. Công việc kiểm tra và phê bình, đánh giá mới đòi hỏi như vậy, còn việc người nghe (hay người dịch) hiểu cái nghĩa mà tác giả muốn truyền đạt bất chấp những lỗ hổng, những sự tỉnh lược, những chỗ không nói hết trong ngôn từ thường chỉ cần một khoảnh khắc, một nháy mắt cũng có thể được bù đắp ngay trong ý thức của người nghe (hay người dịch).

Sau đây là những nội dung ý nghĩa chứa đựng trong nguyên bản không bao giờ được truyền đạt bằng ngôn từ mà người nghe hay người dịch vẫn phục hồi được và hiểu ngay lập tức khi tiếp xúc với văn bản:

1. Tiền giả định (presupposition). Khi gặp một người quen hỏi thăm mình bằng câu “Anh đã khỏe chưa?”, người nghe (hay người dịch) biết ngay rằng người ấy có nghe ai đó nói rằng trước đó mình có bị bệnh. Nếu cái tiền giả định ấy đúng, anh ta có thể trả lời là ”Khỏe rồi” hay “Chưa khỏe”. Nhưng nếu cái tiền giả định ấy sai (tức trước đó anh ta không hề đau ốm gì), thì dù có trả lời thế nào cũng không ổn, vì cũng vô hình trung thừa nhận một tiền giả định hoàn toàn sai.

2. Hàm nghĩa từ vựng (lexical implication). Khi một nhân vật trong nguyên bản nói “Nó sắp cưới vợ mới”, người nghe (và người dịch) biết ngay rằng nó là một người đàn ông trưởng thành từng có một đời vợ, mặc dầu trong câu không có một từ nào nói rõ giới tính của nó (nó dĩ nhiên có thể là một đứa con gái) và tình trạng hôn nhân trước đó của nó. Tuy vậy người nghe (và người dịch) suy diễn được ngay những điều này từ những từ khác có mặt trong câu như cưới vợ và mới.

3. Hàm ngôn hội thoại (conversational implicature). Ta thấy có một hàm ngôn hội thoại khi người nghe (hay người dịch) có thể căn cứ vào một ý trong cuộc hội thoại mà suy ra một ý khác không nói ra nhưng vẫn có mặt trong ý thức người nghe (hay người dịch). Chẳng hạn khi nghe ai nói “Hôm nay nó không say”, người nghe hiểu ngay là có những hôm khác nó say.

Nói chung, ta thấy rằng một nguyên bản bất kỳ không nhất thiết phải nói hết nội dung của nó ra bằng từ ngữ, vì có những ý có thể được người nghe suy ra một cách dễ dàng ngay từ sự vắng mặt của những từ ngữ ấy.

Về những Đơn vị Ý nghĩa

Khi nghe một lời phát biểu ở hội nghị cũng như khi đọc một câu văn cần dịch, người nghe hay người đọc đang muốn dịch câu ấy thường bất giác chia câu ấy ra thành từng "cụm từ" để lần lượt hiểu cho được những gì vừa nghe hay vừa đọc xong. Những “cụm từ” này không trùng với những đơn vị cấu trúc mà nhà ngôn ngữ học dùng những thủ pháp phân tích nghiêm ngặt để tách ra khỏi ngữ lưu (những ngữ đoạn, những từ đơn, những từ ghép, những thành ngữ, v.v.). Lederer gọi đó là những Đơn vị Ý nghĩa (Unités de sens).

Người nghe hay người dịch lần lượt hiểu và quên ngay những từ ngữ vừa nghe hay vừa đọc được không phải theo một kỹ năng khoa học, có cơ sở lý luận, mà theo bản năng, trong quá trình nghe hay đọc, hễ hiểu ra được khúc nào là ghi nhận ý nghĩa (và quên ngay từ ngữ) của khúc ấy.

Những đơn vị ý nghĩa này nối tiếp theo nhau (và có những chỗ chồng chéo lên nhau) trong tâm trí người nghe để cuối cùng làm thành cái ý nghĩa chung của câu văn và đoạn văn, rồi hội nhập vào những đơn vị rộng lớn hơn nữa, những ý nghĩa mạch lạc hơn, và biến thành những kỷ niệm, những tri thức phi ngôn từ hóa trong tâm trí người nghe hay người dịch.

Kích thước của những đơn vị ý nghĩa có thể ở mỗi người một khác. Có người phải chờ cho hết một đoạn dài mới tổng kết được ý nghĩa của nó; có người chỉ cần nghe một hai chữ đầu đã hiểu cả đoạn.  

(4) Tái ngôn từ hóa

Công đoạn cuối cùng của việc dịch thuật - và cũng chính là mục đích tột cùng của nó - là việc tái ngôn từ hóa những gì người đọc đã hiểu được khi đọc nguyên bản, tức những ý và nghĩa mà tác giả muốn truyển đạt bằng cách sử dụng ngôn ngữ đích - thứ tiếng mà người dịch chọn làm phương tiện biểu đạt cho bản dịch của mình..

Như đã nói trên kia, một bản dịch xứng đáng với danh từ này phải có giá trị tương đương (equivalent) với nguyên bản về mọi phương diện, nội dung cũng như hình thức. Vậy muốn bản dịch có giá trị tương đương này, người dịch phải làm những gì?

Tính tương đương của một bản dịch so với nguyên bản có thể phân tích thành hai dình diện: bình diện nhận thức (équivalence cognitive) và bình diện xúc cảm (équivalence affective)

1. Tính tương đương về nhận thức

Tính tương đương trên bình diện nhận thức là kết quả của việc sử dụng những yếu tố phụ trợ về khái niệm mà người dịch đưa vào bản dịch để bổ sung cho ngữ nghĩa của nguyên bản. Việc bổ sung này là cho bản dịch khác với nguyên bản về hình thức. Mức độ khác nhau giữa nguyên bản và bản dịch tùy thuộc vào sự khác nhau về loại hình giữa ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích.

Cái khoảng cách này càng nhỏ thì càng có nhiều sự tương ứng (correspondences) về hình thức biểu đạt. Vì vậy giữa hai thứ tiếng cùng loại hình như tiếng Hán và tiếng Việt, đều là ngôn ngữ đơn lập (isolating) và phân tích tính (analytic) đến triệt để, đều không dùng đến hình thái học[iv], chỉ còn khác nhau ở trật tự từ ngữ trong ngữ danh từ (phụ trước chính sau), trong khi ngữ vị từ thì vẫn theo trật tự chính trước phụ sau, có thể tìm thấy khá nhiểu sự tương ứng về ngữ pháp và từ vựng trong cách biểu đạt. Huống chi trong tiếng Việt có đến từ 70% đến 80% từ ngữ gốc Hán, trong đó có những ngữ đoạn có cấu trúc chặt và thường có chức năng định danh, gọi là “từ Hán-Việt”[v] .

Còn giữa tiếng Việt và các thứ tiếng châu Âu, vốn thuộc loại hình khuất chiết hay biến hình (inflectional) và tính tổng hợp (synthetic) rất cao, cái khoảng cách ấy rất lớn, cho nên ít khi có thể tìm thấy những sự tương ứng, nhất là những sự tương ứng một đối một, giữa hai bên. Trong việc dịch thuật từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia, công đoạn phi ngôn từ hóa lại càng quan trọng và cần thiết. Khi đã hiểu được cái ý nghĩa mà tác giả muốn truyền đạt, thà xoá hết những từ ngữ của nguỵên bản tiếng Âu châu còn hơn mải loay hoay với những từ ngữ ấy mà sao lãng việc tìm cho ra cách biểu đạt cho thật đúng và thật hay những ý nghĩ và hình tượng mà tác giả muốn truyền đạt.

Tôi còn nhớ mãi một câu văn trong sách “kinh điển” do một nhà xuất bản lớn của Thủ đô ấn hành vào những năm 50 của thế kỷ vừa qua:

Cứ cái đà này, những con người rồi sẽ đến nước phải gặm cỏ nội như những con cừu cái.

Trong nguyên bản tiếng Pháp (xuất xứ của bản dịch vừa dẫn), ta thấy:

De ce train-là, les hommes en viendront à brouter l’herbe des prés comme les brebis.  

Tôi hoàn toàn thông cảm với dịch giả trong sự nỗ lực dịch thật sát nguyên bản sách kinh điển, vốn được coi là một thứ thần văn mà nếu dịch sai dù chỉ một chữ hay một cái dấu chấm câu cũng có thể đề lại cho hậu thế nhũng hậu quả khôn lường. Nếu dịch giả không dịch như thế, thì ban biên tập chắc chắn sẽ sửa lại cho đúng như thế.

Nhưng đứng trên quan điểm của nghề dịch thuật, không thể không nói ra những nhận xét sau đây:

(a). dịch giả dịch sát những từ ngữ, chứ không truyền đạt cái ý mà tác giả muốn nói;

(b). dịch giả không biết tiếng Việt chuẩn khác tiếng Pháp như thế nào. Chẳng hạn, les hommes không tương ứng với những con người, mà với con người hay người ta; khi nói về động vật, tiếng Việt không có nhu cầu phải nói rõ số và giống như tiếng Pháp, cho nên viết ăn cỏ như cừu là đủ và đúng. Vả lại chẳng lẽ chỉ có cừu cái mời ăn cỏ, còn cừu đực thì không?

Dù câu dẫn trên đây có là một câu thần chú, trong đó mỗi chữ đều linh thiêng và có giá trị sinh tử đối với người khấn nguyện, thì cách dịch như thế vẫn là sai vì dùng ngôn ngữ đích không đúng chuẩn và do đó không tương đương với nguyên bản, ít nhất là về phương diện ngữ pháp và phong cách, vì có quá nhiều nét thừa dư (redundancies) nếu lấy nguyên bản tiếng Pháp làm chuẩn để so sánh.

Giáo sư phật học Minh Chi nhiêu lần than phiền rằng những bản dịch kinh Phật đọc lên không ai hiểu được chút gì, nhưng ông đã đề nghị dịch lại mấy lần mà Giáo hội không chịu, vì Kinh Phật “chỉ cần tụng niệm chứ không cần hiểu”.

2. Tính tương đương về xúc cảm

Không thể có một lý thuyết chung để xác định mức độ tương đương về tính xúc cảm giữa một bản dịch với nguyên bản, vì trên bình diện này sự khác nhau giữa các ngôn ngữ có thể nói là muôn hình vạn trạng. Mỗi ngôn ngữ có một cách riêng để kết hợp hai bình diện nhận thức và xúc cảm trong những thủ pháp thường gọi là tu từ học, hay phong cách học, hay hùng biện (rhetorics). Bình diện xúc cảm cũng có mặt trong cách dùng những thành ngữ, những tục ngữ, những lối nói mà truyền thống lâu đời của văn học dân gian đã nhuộm những màu sắc xúc cảm không mấy khi có thể phân tích và xác định bằng những thuật ngữ khoa học.

Tính tương đương về hai bình diện xúc cảm và nhận thức thường quyện vào nhau một cách hết sức nhuần nhuyễn trên khắc các cấp độ khác nhau của hệ tôn ti giữa các đơn vị ngôn ngữ.

Sau đây là cách trình bày của Werner Koller (1992) về những chuẩn tắc của tính tương đương trong dịch thuật:

* bản dịch phải chuyển đạt đủ những thông tin của nguyên bản về hiện thực ở bên ngoài ngôn ngữ (denotative Äquivalence)

* nó phải tôn trọng phong cách của nguyên bản: âm vực của ngôn ngữ, biệt ngữ xã hội và địa phương của nguyên bản (konnotative Äquivalence)

* nó phải phù hợp với thể loại chuẩn của nguyên bản (textnormative Äquivalence)

* nó phải được thích nghi với vốn tri thức của độc giả để cho độc giả hiểu được. Đó là một sự tương đương về dụng pháp (pragmatische Äquivalence)

* cuối cùng, bản dịch phải tạo ra được một hiệu quả thẩm mỹ tương đương với nguyên bản (formal-ästhetische Äquivalence).

Ta có thể tin chắc rằng những chuẩn tắc trên đây của W. Koller đề phải được tính đến, một cách có ý thức hay chỉ trong mẫn cảm trực giác, khi đánh giá một bản dịch. Tất nhiên, những chuẩn tắc này không phải là một phương pháp dịch thuật có thể dùng để soạn sách giáo khoa đào tạo những người phiên dịch. Nhưng nó có thể cho phép người ta kiểm nghiệm lại xem thử một bản dịch nào đấy có thiếu sót điểm nào trong việc đi tìm sự tương đồng hay không.

Ngay trong cách trình bày những chuấn tắc của mình về tính tương đồng của bản dịch so với nguyên bản, W. Koller không tránh khỏi việc so sánh giữa từ ngữ của bản dịch với từ ngữ của nguyên bản. Điều này có phần mâu thuẫn với nguyên lý chung của ngành dịch thuật: dịch không phải là thay thế những từ ngữ của nguyên bản bằng những từ ngữ của một thứ tiếng khác, mà hiểu lấy ý nghĩa của nguyên tác bằng cách xoá sạch từ ngữ của nó đi để tạo nên một ý nghĩa tương đương bằng những từ ngữ của một thứ tiếng khác.

Nhưng kiểm tra và đánh giá một bản dịch lại là một công việc khác.

*
Những dòng trên đây của chúng tôi không có tham vọng gì hơn là phác thảo một vài nguyên lý cơ bản của công việc dịch thuât xét về lý thuyết, chủ yếu dựa trên một cuốn sách tương đối mới (so với thuyết TÍN-ĐẠT-NHÃ của hai thế kỷ trước). Chúng tôi biết rằng bài này chưa đáp ứng được bao nhiêu những nhu cầu lý thuyết và thực tiễn của các bạn đồng nghiệp. Tôi chỉ mong sao những người có chú ý đến dịch thuật và có trách nhiệm trong ngành xuất bản quan tâm ít nhiều đến việc cho dịch và xuất bản một vài công trình có thể giúp cho những người làm việc trong ngành này có tài liệu để trau dồi tri thức về nghề nghiệp.    

Cao Xuân Hạo (dịch giả, nhà ngôn ngữ học)

[i] Trong số những chuyên gia nổi tiếng về phiên dịch có PGS. Phan Ngọc đã hàng trăm lần căn dặn các môn đệ rằng “muốn đổi gì thì đổi, chứ trât tự từ ngữ thì nhất thiết phải giữ y nguyên”.

[ii] Một điều đáng tiếc là những bài ca dao thường dùng khi ru con rất ít được học trong các giáo trình tiếng Việt, vì nó rất khác tiếng Tây, và do đó “chẳng có giá trị gì về ngữ pháp”.(ngay sách giáo khoa dạy tiếng cũng rât ít khi dẫn ca dao, vì câu ca dao tường cải chính một cách hùng hồn những quy tắc ngữ pháp tiếng Tây mà sách giáo khoa đem dạy cho người Việt).

[iii] Những tài liệu chủ yếu mà chúng tôi sử dụng trong bài này gồm có những đầu đề sau đây: Lederer M. La traduction aujourd’hui. Le modèle interprétatif. Hachette 1994; Seleskovich D. Traduire, de l’expérience au concept. Études de Linguistique Appliquée 24. Didier 1986. Sperber D. & Wilson D. Relevance, Communication and Cognition. Blackwell 1986. Sartre J. P. Qu’est-que la littérature. Gallimard 1985. Steiner G. After Babel.Aspects of Language and Translation. Oxford U.P. 1978; Delisle J. L’analyse du discours comme méthode de traduction. P.U.Ottawa 1984; Koller, W.Einführung in die Übersetzungwissenschaft. Heidelberg. 1992.

[iv] Đây là nói đến tiếng Hán "cổ điển" (thời Đường–Tống), vì tiếng Hán hiện đại đã có những yếu tố khá rõ của loại hình chắp dính (agglutinating languages) với sự xuất hiện hàng loạt của những phụ tố (affixes), do quá trình ngữ pháp hóa (grammaticalisation) của những “thực từ” vốn mang nghĩa từ vựng (lexical meaning) như danh từ (nouns) và vị từ (verbs), nay đã mất nghĩa từ vựng (“hư hóa”) mà chuyển thành những công cụ ngữ pháp (những phụ tố như tử, nhi, nhĩ, tố, đích, v.v.).

[v] Danh ngữ này, thường được coi như một vế đối lập với “từ thuần Việt”, đã gây nên nhiều sự ngộ nhận không đáng có.. Có nhiều người tưởng rằng “từ Hán-Việt” là những từ ngữ được ”vay mượn” từ nước ngoàiï rồi đem du nhập vào tiếng Việt, cũng giống như những từ ngữ tiếng Pháp, tiếng Anh hay Quảng Đông, Phúc Kiến, Nhật Bản, Hàn Quốc, đổng thời tưởng rằng từ ”thuần Việt” là những từ gốc Việt có từ thời khai thiên lập địa. Thật ra từ “thuần Việt” hầu hết là những từ gốc Thái, gốc Mường hay gốc Môn-Khmer. Trong khi đó thì từ Hán-Việt là một trong những cội nguồn quan trọng và cổ xưa nhất của tiếng Việt, nằm trong lớp hạ tằng của tiếng “thuần Việt”,chứ tuyệt nhên không phải là những từ mới vay mượn từ tiếng nước ngoài.

Wednesday, August 22, 2012

Kinh nghiệm tự học tiếng Anh - Nguyễn Hữu Thiện

* YTC trân trọng giới thiệu với cộng đồng dịch giả trẻ một tài liệu tham khảo về kinh nghiệm cá nhân khi tự học tiếng Anh mà dịch giả Nguyễn Hữu Thiện rút ra được trong quá trình tự rèn luyện của mình. Dịch giả Nguyễn Hữu Thiện cũng là một chuyên gia độc lập nghiên cứu về sông Mekong.

Người Việt Nam học tiếng Anh thường gặp nhiều khó khăn hai ngôn ngữ quá khác xa nhau và vì văn hóa khác nhau, lối suy nghĩ khác nhau, nên cách diễn tả ý nghĩ và các khái niệm cũng khác nhau. Lúc mới học tiếng Anh, nhất là khi sắp tới một kỳ thi nào quan trọng, hoặc sau một vài năm học mà chưa đạt kết quả như mong muốn, ta thường hỏi những người đi trước về ‘bí quyết’. Ai đã từng học tiếng Anh sẽ biết rằng, quan niệm cho đúng, học có phương pháp sẽ tiến nhanh hơn rất nhiều, trong khi có những người học hơn 10 năm, 20 năm vẫn không có kết quả tốt vì quan niệm sai và thiếu phương pháp.

Bản thân người viết bài này là người tự học tiếng Anh, chưa qua trường lớp tiếng Anh, ngoại trừ một khóa ngữ pháp căn bản khoảng 2 tháng hồi năm 1990 để bắt đầu quá trình học tiếng Anh từ đó cho đến nay (chưa bao giờ ngưng nghỉ mà cũng còn hoài không học hết được). Sau đây là những kinh nghiệm tự rút ra của một người đã và đang đi qua con đường “trần ai khoai củ” tự học tiếng Anh. Để học tiếng Anh hiệu quả, người học cần có một số quan niệm cho phù hợp.

Sẽ không có thầy nào, dù là siêu hạng đến đâu, có thể dìu dắt ta đi đến đích. Không có nghĩa là bạn không cần thầy, nhưng bạn phải nhớ là chỉ có chính ta mới có thể đưa ta đến đích. Cũng không có một phép màu nhiệm nào để ta chỉ việc ghi danh vào một trường, lớp nào đó để sau vài khóa, mỗi khóa vài tháng là ta thành công được, nếu chính ta không tự cố gắng trong lúc đó và tiếp tục nỗ lực liên tục sau này. Bạn có thể hỏi “thế nào là đến đích”. Chúng tôi cho rằng “đích” là một mục tiêu di động, khi bạn đi tới một “đích” thì nhắm tới “đích” kế tiếp trên con đường cố gắng làm sao để sử dụng tiếng Anh tự tin hơn, trôi chảy hơn, và để người nghe ta nói và người đọc cái ta viết không phải “cực nhọc” lắm mới hiểu. Bạn có thể đặt các mục tiêu trong 3 tháng, 1 năm, 5 năm, hay 10 năm trên con đường đó.

Học sử dụng chứ không phải học về tiếng Anh. Ta nên quan niệm học là để sử dụng (learn to use English) chứ không phải học về tiếng Anh (learn about English). Quan niệm này quan trọng lắm. Có nhiều bạn không sử dụng tiếng Anh được, mặc dù kiến thức về tiếng Anh thì nhiều lắm. Nếu bạn để ý sẽ thấy rằng số người “biết tiếng Anh” thì nhiều, nhưng số người có thể sử dụng được tiếng Anh thì ít hơn. Tương tự như khi học võ mà chỉ học để biết về võ chứ không học thực hành và trải qua đánh đấm thực sự. Học bơi cũng vậy, ta có thể học “về bơi lội” mà không hề xuống nước để đến khi bị chìm tàu, phải xuống nước thì chới với. Bạn có thể nói “nhưng mà tôi không có cơ hội tiếp xúc thì làm sao?”. Xin thưa, cơ hội để nghe và đọc thì nhiều lắm: băng đĩa, sách, internet, bạn có thể nghe, đọc suốt đời không hết. Nếu bạn không có cơ hội thực tập nói với người bản xứ thì bạn có thể thực tập nói với bạn học cùng lớp, hoặc tổ chức những câu lạc bộ nói tiếng Anh với nhau. Cơ hội là do mình tạo ra. Bạn hình dung việc học tiếng Anh như lượm gạch để xây một “tòa lâu đài” hoặc chí ít “căn nhà tiếng Anh” có thể ở được cho mình, chứ không phải tích lũy một đống kiến thức như đống gạch vụn mà không thành căn nhà. Nếu bạn đăng ký một lớp tiếng Anh thì bạn nên lựa lớp nào mà ở đó ông thầy chỉ là người “giúp việc” cho bạn, hướng dẫn nguyên tắc và cho bạn được “đánh võ” chứ không phải là làm thầy giảng thao thao bất tuyệt cho bạn nghe.

“Học ở đại lộ trước, học trong hẻm sau”. “Học trong hẻm” tức là học những chi tiết, ví dụ mới bắt đầu mà cố học thuộc lòng bảng động từ bất quy tắc; còn “học ở đại lộ” là học những nét lớn, ví dụ học cấu trúc câu. Nếu mới bắt đầu học mà bạn quá bận tâm chi tiết thì sẽ bị lạc lối vào mê cung tiếng Anh, càng ngày càng lạc vào rừng thẳm tiếng Anh, nản chí vô cùng. Hãy hình dung bạn có một người bạn nào đó từ một tỉnh xa đến, chưa biết đường đi lối lại ở Sài Gòn, nhờ bạn hướng dẫn. Người đó đến bến xe và bạn bắt đầu hướng dẫn đường sá Sài Gòn bằng cách là dẫn đi hết các hẻm ở khu vực đó và học thuộc các hẻm trước khi đi tiếp thì có khi học cả đời cũng chẳng thuộc nổi đường đi ở Sài Gòn. Đến khi đã đi hết tất cả các đường sá và hẻm của cả thành phố rồi thì sẽ không ráp lại được thành sơ đồ trong đầu để có thể tự mình đi rong mà không bị lạc. Cách hay hơn là bạn nên dắt bạn của bạn đi theo những trục đường chính của thành phố và chỉ ra những điểm mốc quan trọng dễ nhớ để có lỡ đi lạc thì quay lại đó, định hướng đi tiếp. Còn việc học thuộc các con hẻm thì hãy để bạn đó tự làm cả đời về sau.

Đừng tự chế tiếng Anh. Có nghĩa là người nói tiếng Anh bản xứ nói làm sao, viết làm sao thì ta nói và viết theo như vậy chứ đừng tự chế. Tiếng Anh mà ta tự chế ra để nói, viết thì sẽ là “Vietlish” hay “English made in Vietnam”. Cho nên bạn “đừng nói ra câu nào mà bạn chưa nghe người nói tiếng Anh bản xứ nói và đừng viết ra câu nào mà bạn chưa thấy người nói tiếng Anh bản xứ viết”. Vậy thì bạn phải nghe nhiều, đọc nhiều, đọc rộng; và lượm lặt những cấu trúc câu, thành ngữ, cách diễn đạt chính gốc của họ và thay thế từ ngữ vào. Thí dụ, bạn đã nghe được họ nói một câu, sau đó bạn lấy cấu trúc câu đó và đến lượt bạn sử dụng thì bạn thử thay thế danh từ bằng danh từ khác, động từ bằng động từ khác để diễn đạt ý mình muốn.

Đừng học từ lẻ mà học theo “sảnh”
. Trong trò chơi bài “Tiến lên”, đi “sảnh” là đi một loạt các quân bài cùng một lúc, thí dụ một sảnh gồm các cây 9, 10, J, Q, K, A, thay vì đi lẻ từng cây. Khi học tiếng Anh cũng vậy, nếu ta học lẻ từng từ một thì khi ta “xổ” tiếng Anh ra thì ta cũng sẽ khó nhọc “rặn” ra từng từ, từng từ, nghe nó cứ “lục cục lòn hòn” như đi xe honđa ôm trên đường đá thô. Còn khi ta học vào theo từng “sảnh”, tức là học nguyên một câu, một cụm từ, hay một thành ngữ; thì khi ta “xổ” ra thì sẽ theo từng “tràng” từng “tràng” như là súng liên thanh.

Đừng tra tự điển ngay. Không tra từ điển làm sao biết? Bạn nên nhớ rằng từ điển chỉ dùng để tra cứu khi thật sự cần thiết, chứ không dùng để học. Nếu bạn muốn tiến xa trên con đường học tiếng Anh thì ngay từ bây giờ phải dứt khoát dẹp cuốn tự điển đi. Còn nếu vẫn muốn dùng tự điển thì chỉ nên dùng từ điển Anh-Anh, đừng dùng từ điển Anh-Việt. Sau một thời gian học và tích lũy vốn tiếng Anh, bạn sẽ thấy rằng vốn tiếng Anh của bạn có thể xếp thành 02 loại: Loại 1 là “Vốn tiếng anh thụ động”, tức là có những từ ngữ, cấu trúc, hay câu mà bạn có thể hiểu được khi người ta nói sẵn hoặc viết sẵn còn tự bạn thì không có khả năng tự mình nói ra, viết ra được, và Loại 2 là “Vốn tiếng Anh chủ động” tức là những từ ngữ, cấu trúc, hay câu mà bạn chẳng những có thể hiểu khi người ta nói hoặc viết mà tự bạn còn có thể sử dụng thành thạo tự tin nữa. Vậy thì bạn nên làm sao chuyển vốn loại 1 thành vốn loại 2 càng nhiều càng tốt. Nếu bạn sử dụng từ điển thì bạn tích lũy vốn loại 1 nhiều hơn và khó chuyển sang loại 2. Bạn dẹp bỏ từ điển từ đầu thì bạn sẽ bắt đầu thu nạp vào vốn loại 2 ngay từ đầu. Đối với một từ nào đó bạn mới gặp lần đầu, bạn đừng tra từ điển mà đọc lướt qua luôn, các chữ còn lại trong câu và văn cảnh của đoạn đó sẽ cho bạn biết sơ sơ về nghĩa của từ đó, bạn cứ yên chí và đừng vội tra từ điển. Sau này bạn đọc tài liệu khác thì bạn sẽ gặp lại chữ đó trong câu khác, văn cảnh khác, bạn sẽ biết nghĩa của từ đó rõ hơn một chút, và đến lần gặp thứ năm, thứ sáu thì từ đó sẽ thực sự là của bạn để bạn có thể tự tin mà sử dụng. Nếu bạn tra từ điển ngay từ đầu thì các từ ngữ mà bạn gặp sẽ mãi mãi là của người khác, tức là mãi mãi sẽ chỉ là người quen sơ sơ” của bạn. Sau khi từ nào đó đã thành “người quen” của bạn thì bạn có thể sử dụng từ điển Anh-Anh để học hết các “từ họ hàng” của từ đó để “làm quen với cả gia đình” của từ đó luôn thể.

Tắt cái “máy dịch” trong đầu. Khi ta mới học tiếng Anh, ta thấy rằng thông thường ta suy nghĩ bằng tiếng Việt rồi cố gắng chuyển qua tiếng Anh. Đầu tiên là coi Subject là gì, ngôi thứ mấy để chia động từ có s hay là không có s (hoặc es), rồi đến Tense gì, hiện tại hay quá khứ; thường, tiếp diễn, hay hoàn thành để chia động từ; rồi coi động từ có quy tắc không, v.v. Đó mới là một câu đơn, còn muốn bổ nghĩa thêm hoặc dùng câu phức thì còn khổ hơn nữa. Bạn học lâu năm thì sẽ biết hết các thứ này, nhưng vấn đề là làm sao nhanh, dùng liền tại chỗ, chứ mình ngồi đó mà lắp ráp kiểu đó “rặn” ra được một câu thì “thằng tây” đã về ngủ một giấc, quay lại mình ráp chưa xong một câu.

Vậy có cách nào không? Xin thưa là có. Cách đó là bạn theo mấy nguyên tắc nói ở trên (Đừng tự chế tiếng Anh, Đừng tra tự điển ngay, Học theo “sảnh”), sau một thời gian thì bạn cương quyết là “tắt cái máy dịch trong đầu” và muốn nói, viết cái gì thì suy nghĩ thẳng bằng tiếng Anh luôn, khỏi phải qua mấy giai đoạn: Suy nghĩ bằng tiếng Việt; dịch ra tiếng Anh trong đầu; nói, viết ra bằng Tiếng Anh; để rồi khi nghe người ta nói thì lại phải nghe tiếng Anh rồi dịch ra tiếng Việt trong đầu để hiểu.

Làm một bộ thẻ học tiếng Anh. Bạn thường nghĩ rằng mình không có thời gian, thực ra bạn có nhiều khoảng thời gian nhỏ trong ngày có thể tận dụng như trong lúc chờ xe buýt, chờ vá ruột xe, chờ khám bệnh, lúc tập thể dục. Bạn hãy làm những tấm thẻ bỏ túi, ghi những từ ngữ hoặc những quy tắc ngữ pháp cần nhớ, hay một mẫu câu hay. Khi chờ xe vá ruột xe, bạn có thể rút thẻ ra nhìn nhanh rồi cho vào túi. Ở nhà thì thẻ nào đã thuộc, bạn cho vào một hộp; thẻ nào chưa thuộc thì cho vào một hộp khác. Nếu bận tận dụng thời gian như thế 10 lần trong ngày, mỗi lần 3 phút thì bạn đã có 30 phút để học mỗi ngày. Học ít mỗi ngày mà đều đặn sẽ tốt hơn học nhiều một lúc rồi bỏ phế một thời gian dài mới quay lại học tiếp.

Kinh nghiệm là của người khác. Khi bạn nghe kinh nghiệm và “bí quyết” của người khác thì cũng chỉ có giá trị tham khảo mà thôi. Bạn có thể áp dụng thử nhưng bạn hãy tự mình rút ra kinh nghiệm cho riêng mình và tìm phương pháp nào phù hợp nhất với chính mình để học tiếng Anh.

Nguyễn Hữu Thiện